TCVN 14458:2025
IEC/TR 62725:2013
Analysis of quantification methodologies for greenhouse gas emissions for electrical and electronic products and systems
Mục lục
Lời nói đầu
1 Phạm vi áp dụng
2 Tài liệu viện dẫn
3 Thuật ngữ và định nghĩa
4 Nguyên tắc
5 Nghiên cứu so sánh các tài liệu liên quan hiện có
6 Khung định lượng
7 CFP-PCR
8 Tài liệu
9 Truyền thông và kiểm tra xác nhận
Phụ lục A (tham khảo) - Ví dụ về cơ sở dữ liệu hiện có có thể được sử dụng để định lượng dưới dạng dữ liệu thứ cấp
Phụ lục B (tham khảo) - Kết quả nghiên cứu phân tích so sánh trên các tài liệu liên quan hiện có được lựa chọn bao gồm các Tiêu chuẩn quốc tế và các sáng kiến khu vực và quốc gia
Phụ lục C (tham khảo) - Ví dụ về PCR/Quy tắc cụ thể của ngành
Phụ lục D (tham khảo) - Thông tin bổ sung về phương pháp ước tính thử và độ không đảm bảo
Thư mục tài liệu tham khảo
Lời nói đầu
TCVN 14458:2025 hoàn toàn tương đương với IEC/TR 62725-25:2013;
TCVN XXXX:2025 do Ban kỹ thuật tiêu chuẩn quốc gia TCVN/TC/E3 Thiết bị điện tử dân dụng biên soạn, Viện Tiêu chuẩn Chất lượng Việt Nam đề nghị, Ủy ban Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng Quốc gia thẩm định, Bộ Khoa học và Công nghệ công bố.
PHÂN TÍCH CÁC PHƯƠNG PHÁP LUẬN ĐỊNH LƯỢNG PHÁT THẢI KHÍ NHÀ KÍNH DÙNG CHO CÁC SẢN PHẨM VÀ HỆ THỐNG ĐIỆN, ĐIỆN TỬ
Analysis of quantification methodologies for greenhouse gas emissions for electrical and electronic products and systems
Tiêu chuẩn này nhằm cung cấp cho người dùng các hướng dẫn về các phương pháp luận và đánh giá dấu vết carbon của các sản phẩm (sau đây gọi là CFP), bằng cách định lượng các phát thải khí nhà kính (GHG) (sau đây gọi là nghiên cứu CFP) đối với các sản phẩm Điện và Điện tử (sau đây gọi tắt là sản phẩm EE) dựa trên tư duy vòng đời.
Tiêu chuẩn này áp dụng cho mọi loại sản phẩm EE, mới hoặc được cải tạo (ví dụ như được tân trang, nâng cấp, v.v.).
Tiêu chuẩn này dựa trên kết quả của một nghiên cứu so sánh về các phương pháp hiện có đã công bố hoặc đang được thảo luận trong các tổ chức quốc tế đại diện.
Tiêu chuẩn này dự kiến sẽ được sử dụng bởi những người tham gia thiết kế và phát triển các sản phẩm EE cũng như chuỗi cung ứng của họ bất kể ngành công nghiệp, khu vực, loại hình, hoạt động và quy mô của tổ chức. Tiêu chuẩn này cũng có thể được sử dụng làm hướng dẫn để chuẩn bị một PCR cho từng chủng loại sản phẩm trong ngành EE.
CHÚ THÍCH 1: Trong Tiêu chuẩn này, ISO/DIS 14067, ITU-T L. 1400 và L.1410, Tiêu chuẩn Tính toán và Báo cáo Vòng đời Sản phẩm của Nghị định thư GHG (sau đây gọi là (Tiêu chuẩn Sản phẩm của Nghị định thư GHG), BSI PAS 2050 và các sáng kiến quốc tế, khu vực và quốc gia khác được nghiên cứu và so sánh bởi vì các tài liệu và sáng kiến này được coi là có ảnh hưởng nhất trên toàn thế giới vào thời điểm hiện tại.
CHÚ THÍCH 2: Tiêu chuẩn này đề cập đến các yêu cầu liên quan đến sản phẩm EE trong các tài liệu hiện có và trích dẫn chúng bằng các hộp mô tả. Tiếp theo các hộp là hướng dẫn áp dụng cho các ngành EE. Các tài liệu mà Tiêu chuẩn này đề cập đến (ví dụ như ISO/DIS 14067) có thể được sửa đổi trong tương lai. Các hộp mô tả này không ghi lại toàn bộ nội dung của các tiêu chuẩn được đề cập và người đọc được khuyến khích đọc các tiêu chuẩn này để hiểu kỹ các yêu cầu của chúng.
CHÚ THÍCH 3: Tiêu chuẩn này có thể áp dụng cho các chương trình trung hòa các-bon. Nếu như một chương trình (ví dụ như Sáng kiến Dấu vết Carbon của Sản phẩm (CFP) cụ thể) được áp dụng thì một số yêu cầu của chương trình đó có thể được bổ sung vào hướng dẫn được cung cấp trong tiêu chuẩn này.
Trong tiêu chuẩn này không có tài liệu nào được viện dẫn.
Tiêu chuẩn này sử dụng các thuật ngữ và định nghĩa sau.
3.1
Phân bổ (allocation)
Việc phân chia các luồng đầu vào hoặc đầu ra của một quá trình hoặc một hệ thống sản phẩm giữa hệ thống sản phẩm đang được nghiên cứu và một hoặc nhiều hệ thống sản phẩm khác.
[NGUỒN: TCVN ISO 14040:2006, 3.17]
3.2
Cách tiếp cận thuộc tính (attributional approach)
Cách tiếp cận LCA (đánh giá vòng đời) theo đó các phát thải GHG và loại bỏ được thuộc tính đơn vị sản phẩm phân tích được nghiên cứu bằng cách liên kết các quá trình có cùng thuộc tính trong suốt vòng đời của nó.
[NGUỒN: Nghị định thư GHG Tiêu chuẩn kế toán và báo cáo vòng đời sản phẩm: 2011]
3.3
Các-bon sinh học (biogenic carbon)
Các-bon có nguồn gốc từ sinh khối.
[NGUỒN: ISO/DIS 14067: 3.8.2]
3.4
Carbon dioxide tương đương (carbon dioxide equivalent)
CO2 tương đương, CO2 (CO2equivalent, CO2e)
Đơn vị để so sánh lượng bức xạ của khí nhà kính với lượng bức xạ của carbon dioxide.
Chú thích: Carbon dioxide tương đương được tính bằng cách nhân khối lượng của một lượng khí nhà kính đã cho với tiềm năng làm nóng lên toàn cầu của nó.
[NGUỒN: ISO 14064-1:2011, 2.19]
3.5
Các quy tắc dấu vết carbon của một sản phẩm-chủng loại sản phẩm (carbon footprint of a product- product category rules)
CFP-PCR
Tập hợp các quy tắc, yêu cầu và hướng dẫn cụ thể để lượng hóa và truyền thông về CFP cho một hoặc nhiều chủng loại sản phẩm.
[NGUỒN: ISO/DIS 14067: -, 3.4.12]
3.6
Cách tiếp cận hệ quả (consequential approach)
Cách tiếp cận LCA trong đó các quá trình được đưa vào ranh giới vòng đời ở mức độ mà chúng dự kiến sẽ thay đổi do sự thay đổi về nhu cầu đối với đơn vị phân tích.
[NGUỒN: Nghị định thư GHG Tiêu chuẩn kế toán và báo cáo vòng đời sản phẩm: 2011]
3.7
Đơn vị chức năng (functional unit)
Tính năng định lượng của một hệ thống sản phẩm để sử dụng như một đơn vị tham chiếu.
Chú thích: Vì CFP xử lý thông tin về một sản phẩm, đơn vị chức năng có thể là một đơn vị sản phẩm, đơn vị bán hàng hoặc đơn vị dịch vụ.
[NGUỒN: ISO/DIS 14067: -, 3.4.7]
3.8
Tiềm năng nóng lên toàn cầu (global warming potential)
GWP
Hệ số đặc tính hóa (TCVN ISO 14050:2015 (ISO 14050:2009), 7.2.2.2) mô tả khối lượng carbon dioxide có cùng lượng bức xạ tích lũy trong một khoảng thời gian đã cho như một đơn vị khối lượng của một loại khí nhà kính đã cho.
[NGUỒN: ISO/DIS 14067: -, 3.3.4]
3.9
Khí nhà kính (greenhouse gas)
GHG
Thành phần khí trong khí quyển, tự nhiên cũng như nhân tạo, hấp thụ và bức xạ ở các bước sóng riêng trong phổ bức xạ hồng ngoại phát ra từ bề mặt trái đất, khí quyển và các đám mây.
Chú thích: Các khí nhà kính bao gồm, carbon dioxide (CO2), metan (CH4), oxit nitơ (N2O), các hydrofluorocarbon (HFCs), các hợp chất perfluorocarbon (PFC) và lưu huỳnh hexafluoride (SF6).
[NGUỒN: TCVN ISO 14064-1:2011 (ISO 14064-1:2006), 2.1]
3.10
Phát thải khí nhà kính (greenhouse gas emission)
GHG (GHG emission)
Tổng khối lượng của một khí nhà kính thải vào khí quyển trong một khoảng thời gian xác định.
[NGUỒN: TCVN ISO 14064-1:2011 (ISO 14064-1:2006), 2.5]
3.11
Loại bỏ khí nhà kính (greenhouse gas removal)
Loại bỏ khí nhà kính (GHG removal)
Tổng khối lượng của khí nhà kính được loại bỏ khỏi khí quyển trong một khoảng thời gian xác định.
[NGUỒN: TCVN ISO 14064-1:2011 (ISO 14064-1:2006), 2.6]
3.12
Sản phẩm trung gian (intermediate product)
Đầu ra từ một quá trình đơn vị là đầu vào của các quá trình đơn vị khác yêu cầu biến đổi thêm trong hệ thống đó.
[NGUỒN: ISO 14044:2006, 3.231]
3.13
Vòng đời của sản phẩm (life cycle)
Các giai đoạn liên tiếp và liên quan với nhau của một hệ thống sản phẩm, từ thu thập hoặc tạo ra các nguyên liệu thô từ các nguồn tài nguyên thiên nhiên đến thải bỏ cuối cùng.
[NGUỒN: TCVN ISO 14040:2009 (ISO 14040:2006), 3.1]
3.14
Đánh giá vòng đời của sản phẩm (life cycle assessment)
LCA
Thu thập và đánh giá các đầu vào, đầu ra và các tác động môi trường tiềm ẩn của một hệ thống sản phẩm trong suốt vòng đời của nó.
[NGUỒN: TCVN ISO 14040:2006, 32]
3.15
Giai đoạn vòng đời (life cycle stage)
Yếu tố của một vòng đời.
Chú thích 1: Cụm từ 'giai đoạn vòng đời' đôi khi được sử dụng thay thế cho 'bước vòng đời'
Chú thích 2: Ví dụ về các bước vòng đời là: Mua sắm nguyên liệu và sản xuất, chế tạo; đóng gói và phân phối; lắp đặt và sử dụng, bảo trì và nâng cấp; và kết thúc vòng đời.
[NGUỒN: IEC 62430:2009, 3.10]
3.16
Tư duy vòng đời (life cycle thinking)
LCT
Xem xét tất cả các khía cạnh môi trường có liên quan trong toàn bộ vòng đời của sản phẩm.
[NGUỒN IEC 62430:2009, 3.11]
3.17
Tổ chức (organization)
Nhóm người và cơ sở vật chất có sự sắp xếp trách nhiệm, quyền hạn và các mối quan hệ.
[NGUỒN: ISO 9000:2006, 3.3.1][1]
3.18
Dữ liệu sơ cấp (primary data)
Dữ liệu thu thập được từ các quá trình cụ thể trong vòng đời của sản phẩm được nghiên cứu.
[NGUỒN: Tiêu chuẩn kế toán và báo cáo vòng đời sản phẩm của GHG Protocol: 2011]
3.19
Quá trình (process)
Tập hợp các hoạt động có liên quan với nhau hoặc tương tác lẫn nhau nhằm biến đổi các đầu vào thành các đầu ra.
Chú thích 1: Đầu vào của một quá trình thường là đầu ra của các quá trình khác.
Chú thích 2: Các quá trình trong tổ chức thường được hoạch định và thực hiện trong các điều kiện được kiểm soát để tăng thêm giá trị.
[NGUỒN: ISO 9000:2006, 3.1.4]
3.20
Sản phẩm (Product)
Hàng hóa hoặc dịch vụ. Chú thích 1: Điều này bao gồm các hàng hóa hoặc dịch vụ được kết nối với nhau và/hoặc có liên quan với nhau.
[NGUỒN: IEC 62430:2009, 3.14]
3.21
Chủng loại sản phẩm (product category)
Nhóm các sản phẩm có tính tương đồng về mặt công nghệ hoặc chức năng, trong đó các khía cạnh môi trường được kỳ vọng là tương tự một cách hợp lý.
[NGUỒN: IEC 62430:2009, 3.15]
3.22
Quy tắc chủng loại sản phẩm (product category rules)
PCR
Bộ các quy tắc, yêu cầu và hướng dẫn cụ thể để xây dựng các công bố môi trường Loại III (ISO 14050:2009, 8.5) đối với một hoặc nhiều chủng loại sản phẩm.
Chú thích 1: PCR Bao gồm các quy tắc định lượng tuân thủ ISO 14044.
[NGUỒN. ISO/DIS 14067-, 3.4.11]
3.23
Hệ thống sản phẩm (product system)
Tập hợp các quá trình đơn vị với các luồng cơ bản và sản phẩm, thực hiện một hoặc nhiều hơn các chức năng xác định và mô hình hóa vòng đời của một sản phẩm.
[NGUỒN: ISO 14044:2006, 3.28]
3.24
Luồng tham chiếu (reference flow)
Thước đo các đầu ra từ các quá trình trong một hệ thống sản phẩm đã cho được yêu cầu để thực hiện đầy đủ chức năng do đơn vị chức năng thể hiện.
Chú thích 1: Tiêu chuẩn Sản phẩm Nghị định thư GHG sử dụng thuật ngữ này theo cách khác: "Luồng tham chiếu là lượng sản phẩm được nghiên cứu cần thiết để thực hiện chức năng được xác định trong đơn vị phân tích." Tuy nhiên, Nghị định thư GHG cho rằng những điều này đều chỉ cùng một vật.
[NGUỒN: TCVN ISO 14040:2009, 3.29]
3.25
Dữ liệu thứ cấp (secondary data)
Dữ liệu quá trình không từ các quá trình cụ thể trong vòng đời của sản phẩm được nghiên cứu.
[NGUỒN: Tiêu chuẩn kế toán và báo cáo chu trình vòng đời sản phẩm của GHG Protocol: 2011]
3.26
Độ không đảm bảo (uncertainty)
Tham số gắn liền với kết quả định lượng, đặc trưng cho sự phân tán của các giá trị có thể được quy cho đại lượng đo một cách hợp lý.
Chú thích 1: Thông tin về độ không đảm bảo thường quy định các ước tính định lượng về độ phân tán của các giá trị có nhiều khả năng xảy ra và một mô tả định lượng về các nguyên nhân nhiều khả năng có thể gây ra của sự phân tán đó.
[NGUỒN: TCVN ISO 14064-1:2011 (ISO 14064-1:2006), 2.37]
3.27
Kiểm tra xác nhận (verification)
Quá trình có tính hệ thống, độc lập và được lập thành văn bản để đánh giá tính xác nhận khí nhà kính dựa trên các tiêu chí kiểm tra xác nhận đã thỏa thuận.
[NGUỒN: TCVN ISO 14064-1:2011 (ISO 14064-1:2006), 2.35]
4.1 Yêu cầu chung
Các nguyên tắc sau đây cần được áp dụng trong việc định lượng, lập văn bản và báo cáo các lượng phát thải khí nhà kính của sản phẩm EE đang được đánh giá.
4.2 Tư duy vòng đời (LCT)
Khi xây dựng phương pháp luận nhằm định lượng lượng phát thải khí nhà kính trong suốt vòng đời của sản phẩm EE, cần cân nhắc tất cả các giai đoạn trong vòng đời của sản phẩm.
4.3 Sự liên quan
Lựa chọn và sử dụng dữ liệu, phương pháp, tiêu chí và các giả định phù hợp với việc đánh giá phát thải GHG và loại bỏ khỏi mục tiêu và xác định phạm vi đang được nghiên cứu.
4.4 Tính đầy đủ
Bao gồm tất cả các phát thải và loại bỏ GHG có đóng góp đáng kể cho việc đánh giá phát thải và loại bỏ khí nhà kính phát sinh từ việc xác định mục tiêu và phạm vi đang được nghiên cứu.
4.5 Tính nhất quán
Áp dụng các giả định, phương pháp và dữ liệu theo cùng một cách trong quá trình các phát thải khí nhà kính cho vòng đời của các sản phẩm EE để đi đến kết luận phù hợp với mục tiêu và phạm vi xác định.
4.6 Độ chính xác
Giảm sai lệch và độ không đảm bảo ở mức có thể thực hiện được.
4.7 Tính minh bạch
Xác nhận và ghi vào văn bản tất cả các vấn đề liên quan trong một bản trình bày thông tin cởi mở, toàn diện và dễ hiểu. Tiết lộ đầy đủ bất kỳ giả định và hạn chế có liên quan và đưa ra các tài liệu tham khảo phù hợp về các phương pháp và nguồn dữ liệu được sử dụng. Giải thích rõ ràng bất kỳ ước tính và tránh sai lệch để lượng phát thải khí nhà kính trong báo cáo nghiên cứu vòng đời của sản phẩm EE thể hiện một cách trung thực những gì nó thể hiện.
CHÚ THÍCH: Các nguyên tắc trên (4.3 đến 4.7) được điều chỉnh theo TCVN ISO 14064-1:2011 (ISO 14064-1:2006), Điều 3 có sửa đổi.
5 Nghiên cứu so sánh các tài liệu liên quan hiện có
Phụ lục B tóm tắt kết quả nghiên cứu so sánh trên các tài liệu liên quan hiện có bao gồm các Tiêu chuẩn quốc tế, các sáng kiến khu vực và quốc gia trong đó nêu rõ phương pháp luận nghiên cứu CFP và LCA và được tham khảo rộng rãi trên toàn thế giới.
Một phương pháp cơ bản và chung liên quan đến nghiên cứu CFP đang được xây dựng trong ISO/DIS 14067. Tiêu chuẩn này nêu rõ các nguyên tắc và yêu cầu đối với các nghiên cứu nhằm định lượng dấu vết các-bon của sản phẩm và đánh giá phát thải khí nhà kính tương ứng, dựa trên phương pháp đánh giá vòng đời (LCA) như được quy định trong TCVN ISO 14040:2009 và ISO 14044. ISO/DIS 14067 cũng đặt ra các quy tắc liên quan đến việc sử dụng nghiên cứu CFP cho các mục đích khác nhau và truyền thông liên quan.
Tiêu chuẩn báo cáo & tính toán vòng đời sản phẩm nghị định thư GHG (sau đây gọi là tiêu chuẩn sản phẩm nghị định thư GHG), là một tiêu chuẩn của diễn đàn/ngành, được phát triển song song với Tiêu chuẩn tính toán & Báo cáo về Chuỗi Giá trị Doanh nghiệp nghị định thư GHG (Phạm vi 3) (sau đây gọi là Tiêu chuẩn Nghị định thư GHG Phạm vi 3). Tiêu chuẩn nghị định thư GHG Phạm vi 3 được viết dưới dạng bổ sung cho Tiêu chuẩn Báo cáo & Tính toán Doanh nghiệp nghị định thư GHG. Nó tính đến lượng phát thải chuỗi giá trị ở cấp độ doanh nghiệp, trong khi Tiêu chuẩn Sản phẩm của Nghị định thư GHG tính đến lượng phát thải khí nhà kính trong vòng đời ở cấp độ sản phẩm riêng lẻ. Nghiên cứu CFP được quy định trong Tiêu chuẩn Sản phẩm Nghị định thư GHG phần lớn dựa trên các phương pháp đánh giá vòng đời được quy định trong TCVN ISO 14044 và các yêu cầu truyền thông được quy định trong bộ tiêu chuẩn ISO 14020.
Các phương pháp đánh giá tác động môi trường quy định cho lĩnh vực ICT được quy định bởi ITU-T. Trong số đó có ITU-T L.1410 quy định cụ thể các phương pháp cho hàng hóa, mạng và dịch vụ (GNS) và cung cấp hướng dẫn thực tế cho nghiên cứu CFP trong lĩnh vực này. ITU-TL.1410 bao gồm khung và hướng dẫn đánh giá vòng đời dựa trên phương pháp được quy định trong TCVN ISO 14040:2009 và ISO 14044. Nó được tổ chức thành hai phần, phần 1 đề cập đến phương pháp LCA áp dụng cho ICT GNS và phần 2 đề cập đến phân tích so sánh dựa trên kết quả LCA của hệ thống sản phẩm ICT GNS và hệ thống sản phẩm được tham chiếu.
Phụ lục B của tiêu chuẩn này cũng trình bày các bản tóm tắt được biên soạn về các tiêu chuẩn/sáng kiến khu vực như Dấu vết môi trường của sản phẩm EC và ETSI EE TS 103 199, các sáng kiến quốc gia như PAS 2050 (Anh), TS-Q 0010 (Nhật Bản) và hướng dẫn CFP của Hàn Quốc, v.v., bên cạnh các tiêu chuẩn và dự thảo tiêu chuẩn đã được đề cập ở trên.
Tất cả các tài liệu và sáng kiến liên quan hiện có đều áp dụng cách tiếp cận vòng đời để tính toán lượng phát thải CHG. Hầu hết trong số họ đều dựa trên phương pháp tính toán của mình dựa trên TCVN ISO 14040:2009 và TCVN ISO 14044, bao gồm cả ISO/DIS 14067 đã được mô tả ở trên. TCVN ISO 14040:2009 và ISO 14044 cho phép nghiên cứu LCA về phát thải khí nhà kính và những người thực hành cân nhắc xem xét cẩn thận tính đại diện của các kết quả trong giai đoạn diễn giải.
Trong nghiên cứu CFP của một sản phẩm, việc xử lý phân tích so sánh giữa các sản phẩm cần được chú ý. TCVN ISO 14040:2009 và TCVN ISO 14044 có quy định nghiêm ngặt về việc so sánh sản phẩm. Ngược lại, các đánh giá liên quan đến CFP về phát thải khí nhà kính theo ISO/DIS 14067 thường được kỳ vọng sẽ đưa ra các giá trị đơn lẻ được sử dụng làm cơ sở cho việc so sánh sản phẩm. Tuy nhiên, những giá trị đó chỉ đại diện cho các điều kiện tiên quyết của nghiên cứu và sẽ cung cấp thông tin hạn chế về phát thải khí nhà kính thực tế do tính phức tạp của nhiều sản phẩm EE, chuỗi giá trị và cách sử dụng của chúng. ISO/DIS 14067 thừa nhận sự cần thiết của CFP-PCR để đạt được khả năng so sánh. Do đó, tiêu chuẩn này không thể được sử dụng làm cơ sở duy nhất để so sánh sản phẩm vì không thể xác định các điều kiện so sánh ở cấp độ ngành với mức độ chi tiết đầy đủ.
6.1.1 Điều khoản trong tiêu chuẩn CFP và LCA
Các tiêu chuẩn CFP và LCA cung cấp các yêu cầu sau đây liên quan đến nghiên cứu CFP:
|
Nghiên cứu CFP theo tiêu chuẩn này phải bao gồm bốn giai đoạn của LCA ví dụ xác định mục tiêu và phạm vi, LCI, LCIA và diễn giải vòng đời. [Nguồn: ISO/DIS 14067, 6.1] |
Sự cần thiết của cách tiếp cận cụ thể theo lĩnh vực áp dụng cho các sản phẩm EE được thừa nhận bằng cách xem xét các đặc điểm cụ thể của sản phẩm EE có thể bao gồm một lượng lớn thành phần/vật liệu trong sản phẩm, chuỗi cung ứng chủ động, dài và phức tạp, công nghệ phát triển nhanh chóng, tính phức tạp của quá trình sản xuất và các tình huống sử dụng/cuối vòng đời sản phẩm, v.v., có thể dẫn đến những thách thức đáng kể trong việc thực hiện CFP.
CFP bao gồm phát thải và loại bỏ GHG trong vòng đời của sản phẩm (tức là hệ thống sản phẩm). Các quá trình đơn vị bao gồm hệ thống sản phẩm được nhóm thành các giai đoạn trong vòng đời; ví dụ: thu mua nguyên liệu thô, sản xuất, phân phối, sử dụng và cuối vòng đời sản phẩm. Theo đó, dữ liệu về phát thải và loại bỏ GHG được thu thập trong suốt vòng đời của sản phẩm được gán cho các giai đoạn của vòng đời. Các nghiên cứu CFP từng phần chỉ tính đến các giai đoạn vòng đời cụ thể có thể được kết hợp để tạo thành CFP đầy đủ bao trùm toàn bộ vòng đời với điều kiện là chúng được thực hiện theo cùng một phương pháp và khung thời gian cho các hoạt động liên quan được coi là tương đương.
Để thiết lập các GHG cụ thể cần tính toán, tiêu chuẩn này khuyến cáo xem xét mức độ phù hợp và khuôn khổ/nghiên cứu quốc tế. Ví dụ: 6 loại khí được công nhận trong khuôn khổ quốc tế (Nghị định thư Kyoto): CO2, CH4, N2O, HFCS, PFC5 và SF5. Đối với các loại khí không phải CO2, lượng CO2 tương đương (CO2e) thu được bằng cách nhân từng lượng phát thải khí nhà kính với GWP của các khí đó.
Trong nghiên cứu CFP, kiểm kê vòng đời (LCI) được tính toán thông qua các quá trình cụ thể được nêu trong tiêu chuẩn này.
Ở giai đoạn đánh giá tác động vòng đời (LCIA) của nghiên cứu CFP, tiêu chuẩn này khuyến cáo sử dụng GWP 100 năm hiện tại do Hội đồng liên chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC) đưa ra, được sử dụng để định lượng lượng phát thải của mỗi quốc gia theo Nghị định thư Kyoto, để tính lượng CO2 tương đương.
Cần ghi lại phiên bản Báo cáo đánh giá IPCC nào đã được sử dụng cho Nghiên cứu CFP.
Các khí nhà kính cần tính đến (GHG) cần được xem xét định kỳ, cùng với các nghiên cứu quốc tế trong tương lai, v.v, được đưa vào xem xét. Ví dụ: tất cả các loại khí (nhiều hơn sáu loại, ví dụ: NF3) được chỉ định trong Báo cáo đánh giá IPCC mới nhất có thể được chọn để nghiên cứu CFP.
Ở giai đoạn diễn giải của nghiên cứu CFP, tiêu chuẩn này khuyến cáo xem xét độ không đảm bảo đo, xác định phương pháp phân bổ và tài liệu bao gồm các chi tiết của chúng.
6.1.2 Hướng dẫn ngành kỹ thuật điện cho các bước cơ bản của nghiên cứu CFP
Mục tiêu của việc thực hiện nghiên cứu CFP về các sản phẩm EE là định lượng sự đóng góp của một sản phẩm vào sự nóng lên toàn cầu thể hiện bằng CO2e bằng cách định lượng lượng phát thải và loại bỏ GHG trong suốt vòng đời của nỏ. Một cách khả thi và đơn giản để tiến hành nghiên cứu CFP cho các sản phẩm EE dựa trên phân tích các tiêu chuẩn và sáng kiến CFP và LCA được tóm tắt thành chín bước sau.
• Bước 1 - Xác định mục tiêu và phạm vi (Xem 6.2 "Xác định mục tiêu và phạm vi" để biết thêm chi tiết)
• Bước 2 - Xác định đơn vị phân tích (Xem 6.3 "Đơn vị phân tích" để biết thêm chi tiết)
• Bước 3 - Thiết lập ranh giới hệ thống (Xem “Ranh giới hệ thống” để biết thêm chi tiết)
a) Xác định giai đoạn vòng đời (Xem 6.4.1)
b) Xây dựng bản đồ quá trình (Xem 6.4.1 và 6.4.2)
c) Mô tả ranh giới thời gian (Xem 6.4.3)
d) Xem xét các nguồn và bể hấp thụ GHG cụ thể (Xem 6.4.4)
e) Xác định các tùy chọn để xây dựng tiêu chí giới hạn (Xem 6.4.5)
• Bước 4 - Ước tính thử và quyết định ranh giới bị giới hạn (Xem chi tiết ở 6.5 "Ước tính thử và quyết định về ranh giới bị giới hạn")
• Bước 5 - Thu thập dữ liệu và đánh giá chất lượng (Xem chi tiết ở 6.6 "Thu thập dữ liệu và đánh giá chất lượng")
• Bước 6 - Tính toán phát thải khí nhà kính (Xem 6.7 "Tính toán phát thải khí nhà kính")
• Bước 7 - Đánh giá độ không đảm bảo đo (Xem 6.8 "Độ không đảm bảo")
• Bước 8 - Tài liệu (Xem Điều 8 'Tài liệu")
• Bước 9 - Truyền thông và kiểm tra xác nhận (Xem Điều 9 Truyền thông và kiểm tra xác nhận'')
CHÚ THÍCH: Hình 1 đề cập đến 9 bước này cho các giai đoạn được áp dụng rộng rãi của nghiên cứu LCA như được nêu trong TCVN ISO 14040:2009 và ISO 14044

Hình 1 - Các bước cơ bản của nghiên cứu CFP liên quan đến khung LCA
6.2 Xác định mục tiêu và phạm vi
6.2.1 Điều khoản trong tiêu chuẩn CFP và LCA
Các tiêu chuẩn CFP và LCA cung cấp các yêu cầu sau liên quan đến việc "xác định mục tiêu của nghiên cứu CFP":
|
Khi xác định mục tiêu của nghiên cứu CFP, các hạng mục sau đây phải được nêu rõ ràng: - mục đích áp dụng, - lý do thực hiện nghiên cứu; - đối tượng dự kiến, tức là những người được dự kiến sẽ được truyền đạt các kết quả của nghiên cứu. CHÚ THÍCH: Theo ISO 14044:2006, 4.2.2. [Nguồn: Tóm tắt ISO/DIS 14067] |
6.2.2 Hướng dẫn ngành kỹ thuật điện
Theo các điều của TCVN ISO 14040:2009 đối với LCA, ISO/DIS 14067, về nghiên cứu CFP đối với các sản phẩm EE xác định các cân nhắc được mô tả dưới đây. Ngoài ra, các quy định trong Tiêu chuẩn
Sản phẩm của Nghị định thư GHG xác định những cân nhắc quan trọng liên quan đến việc lựa chọn sản phẩm được nghiên cứu.
Ví dụ về mục tiêu của nghiên cứu có thể bao gồm nhưng không giới hạn ở:
• Minh họa tính năng của sản phẩm về lượng phát thải khí nhà kính để ra quyết định;
• Cung cấp kết quả CFP cho khách hàng theo yêu cầu;
• Đưa kết quả CFP vào phần khai báo sản phẩm trên trang web được công bố rộng rãi.
Khi xác định sản phẩm nào cần nghiên cứu, tổ chức cần tính đến những cân nhắc chính có liên quan, ví dụ:
• Thiết kế hoặc tiến bộ công nghệ;
• Chức năng và đặc điểm của sản phẩm;
• Người sử dụng, điều kiện sử dụng/dịch vụ và cơ sở hạ tầng địa điểm;
• Thời gian sử dụng/thời gian phục vụ thông thường;
• Vật tư tiêu hao, sản phẩm hỗ trợ khác và yêu cầu bảo trì;
• Sơ đồ kết thúc tuổi thọ.
Việc nhóm một dòng sản phẩm hoặc họ sản phẩm mà tác động của phát thải khí nhà kính có thể được dự kiến một cách hợp lý là tương tự nhau, dựa trên chức năng hoặc công nghệ tương tự, có thể được thừa nhận là một chủng loại sản phẩm. Trong trường hợp đó, nghiên cứu CFP có thể được triển khai cho nhóm dòng sản phẩm dưới dạng một chủng loại sản phẩm.
6.3.1 Điều khoản trong tiêu chuẩn CFP và LCA
Các tiêu chuẩn CFP và LCA cung cấp các yêu cầu sau về "đơn vị chức năng" và "đơn vị sản phẩm".
|
6.2.3 Đơn vị chức năng Nghiên cứu CFP phải xác định rõ chức năng của hệ thống sản phẩm đang được nghiên cứu. Đơn vị chức năng phải nhất quán với mục tiêu và phạm vi của nghiên cứu CFP. [...] Do đó, đơn vị chức năng phải được xác định rõ ràng và có thể đo lường được. Khi PCR hoặc CFP-PCR được thông qua, đơn vị chức năng được sử dụng phải được xác định trong PCR hoặc CFP PCR và nhất quán với mục tiêu và phạm vi. Sau khi đã chọn đơn vị chức năng, luồng tham chiếu phải được xác định. Việc so sánh giữa các hệ thống phải được thực hiện trên cơ sở (các) chức năng giống nhau, được định lượng bằng (các) đơn vị chức năng giống nhau dưới dạng các luồng tham chiếu của chúng. Nếu các chức năng bổ sung của bất kỳ hệ thống nào không được tính đến khi so sánh các đơn vị chức năng thì những thiếu sót này phải được giải thích và ghi lại. Thay vào đó, các hệ thống liên quan đến việc cung cấp các chức năng này có thể được thêm vào ranh giới của hệ thống khác để làm cho các hệ thống trở nên dễ so sánh hơn. Trong những trường hợp này, các quá trình được lựa chọn phải được giải thích và lập thành văn bản. […] Kết quả định lượng CFP phải được ghi lại trong báo cáo nghiên cứu CFP theo khối lượng CO2e trên mỗi đơn vị chức năng. [...] Khi CFP-PCR được thông qua, đơn vị chức năng được sử dụng phải được xác định trong CFP-PCR và nhất quán với mục tiêu và phạm vi của nghiên cứu CFP. [Nguồn: ISO/DIS 14067} Đối với tất cả các sản phẩm cuối cùng, công ty phải xác định đơn vị phân tích là một đơn vị chức năng. [...] Đối với các sản phẩm trung gian chưa xác định được chức năng cuối cùng, công ty phải xác định đơn vị phân tích là luồng tham chiếu. {Nguồn: Tiêu chuẩn sản phẩm Nghị định thư GHG:2011}. |
|
6.2.4 Đơn vị sản phẩm Trường hợp ngoại lệ, CFP có thể được báo cáo trên cơ sở đơn vị sản phẩm tự chọn, ví dụ: một hạng mục sản phẩm, với điều kiện là đơn vị chức năng cũng được trình bày và mối quan hệ của đơn vị chức năng với đơn vị sản phẩm đó phải được ghi lại và giải thích. [Nguồn: ISO/DIS 14067] |
6.3.2 Hướng dẫn ngành kỹ thuật điện
Các điều trong ISO/DIS 14067 yêu cầu xác định rõ chức năng của hệ thống sản phẩm đang được nghiên cứu. Báo cáo CFP trên cơ sở đơn vị sản phẩm tự chọn được chấp nhận với điều kiện đơn vị chức năng cũng được trình bày và mối quan hệ của đơn vị chức năng với đơn vị sản phẩm được ghi lại và giải thích.
Mặt khác, các điều khoản trong Tiêu chuẩn Sản phẩm Nghị định thư GHG chỉ ra rằng đơn vị phân tích được xác định là đơn vị chức năng cho tất cả các sản phẩm cuối cùng. Đơn vị phân tích được định nghĩa là luồng tham chiếu cho các sản phẩm trung gian mà chức năng cuối cùng chưa được xác định.
Cần lưu ý rằng Tiêu chuẩn Sản phẩm Nghị định thư GHG làm rõ thêm định nghĩa trong TCVN ISO 14040:2009 và ý nghĩa đó giống nhau và có thể thay thế cho nhau.
Trong trường hợp sản phẩm EE, đơn vị chức năng của sản phẩm cuối cùng hoặc sản phẩm trung gian có thể quá phức tạp để có thể xác định đơn giản. Ví dụ: một chiếc TV được tùy chỉnh cao có thể có một số đơn vị chức năng khác nhau mà không thể xác định thống nhất. Tiêu chuẩn này coi trường hợp sản phẩm EE như vậy là một trong những trường hợp ngoại lệ mà theo đó ISO/DIS 14067 cho phép báo cáo CFP trên cơ sở đơn vị sản phẩm.
Dựa trên các phân tích ở trên, tiêu chuẩn này gợi ý những điều sau:
Đơn vị chức năng có thể dễ dàng áp dụng cho sản phẩm có chức năng được xác định thống nhất.
Ví dụ về xác định đơn vị chức năng và luồng tham chiếu
Các đơn vị chức năng sau đây có thể được áp dụng
• Chỉ số tính năng (chỉ số) với chức năng của sản phẩm;
- Giá trị danh định (khối lượng, trọng lượng, kích thước, tốc độ xử lý, dung lượng bộ nhớ, dung lượng đĩa cứng, v.v.);
• Điều kiện về thời hạn sử dụng
- Thời lượng sử dụng/thời gian phục vụ thông thường (mỗi giờ, ngày) và trọn đời.
Ví dụ - máy biến áp
• Đơn vị chức năng của hệ thống sản phẩm có thể được định nghĩa là "chuyển đổi điện áp nguồn từ X sang Y cho các ứng dụng Z có công suất danh định (XXX kVA) trong vòng đời 30 năm" được xác định theo quy định kỹ thuật của máy biến áp.
CHÚ THÍCH: Đối với một số sản phẩm, ví dụ như thiết bị đóng cắt hoặc máy biến áp, quy định kỹ thuật áp dụng cho đơn vị chức năng có thể được xác định bằng cách tham khảo các tiêu chuẩn sản phẩm liên quan.
"Đơn vị sản phẩm" có thể áp dụng cho nhiều sản phẩm EE thực hiện nhiều chức năng hoặc chức năng phức tạp, cho dù đó là sản phẩm cuối cùng hay sản phẩm trung gian (ví dụ: một máy tính xách tay, một bộ đèn LED, một thiết bị bán dẫn chức năng, v.v.).
Ví dụ - Bộ TV đa chức năng
• Một bộ TV đa chức năng có nhiều chức năng khác nhau như ghi hình, truy cập internet, v.v.
Trong nghiên cứu CFP trên cơ sở “đơn vị sản phẩm”, việc xác định “thời hạn sử dụng (tuổi thọ)” là hạng mục cần thiết để giải thích kết quả nghiên cứu. Do đó, tiêu chuẩn này khuyến cáo ghi lại thời gian tồn tại khi trình bày kết quả CFP trên cơ sở này. (Xem 6.9 Kịch bản sử dụng và bảo trì).
6.4.1.1 Điều khoản trong tiêu chuẩn CFP và LCA
Các tiêu chuẩn CFP và LCA cung cấp các yêu cầu sau về "ranh giới hệ thống":
|
6.2.5 Ranh giới hệ thống 6.2.5.1 Yêu cầu chung Ranh giới hệ thống xác định quá trình đơn vị nào sẽ được đưa vào nghiên cứu CFP. Khi sử dụng PCR hoặc CFP-PCR (xem 6.1), phải áp dụng các quy định về quá trình được đưa vào. Việc lựa chọn ranh giới hệ thống phải nhất quán với mục tiêu của nghiên cứu. Các tiêu chí được sử dụng để thiết lập ranh giới hệ thống phải được nhận biết và giải thích. Phải đưa ra quyết định về việc đưa các quá trình đơn vị nào vào nghiên cứu và mức độ chi tiết mà các quá trình đơn vị này sẽ được nghiên cứu. [...] Bất kỳ quyết định nào nhằm loại bỏ các giai đoạn, quá trình, đầu vào hoặc đầu ra của vòng đời đều phải được nêu rõ ràng, đồng thời phải giải thích lý do cũng như ý nghĩa của việc loại bỏ chúng. Ngưỡng ý nghĩa phải được nêu rõ và chứng minh. Các quyết định cũng phải được đưa ra liên quan đến đơn vị xử lý, đầu vào và đầu ra nào sẽ được đưa vào và mức độ chi tiết của CFP phải được nêu rõ. [...] CFP và CFP một phần phải không bao gồm phần bù. [Nguồn: ISO/DIS 14067]. Ranh giới của việc kiểm kê GHG của sản phẩm phải bao gồm tất cả các quá trình có liên quan. Hàng tồn kho bao gồm các dòng dịch vụ, nguyên vật liệu và năng lượng trở thành sản phẩm, tạo ra sản phẩm và vận chuyển sản phẩm trong suốt vòng đời của nó. Chúng được định nghĩa là các quá trình có thể quy cho. Ví dụ bao gồm các thành phần và bao bì của sản phẩm được nghiên cứu, các quá trình tạo ra sản phẩm, vật liệu dùng để cải thiện chất lượng sản phẩm (ví dụ: phân bón và chất bôi trơn) và năng lượng dùng để di chuyển, tạo ra hoặc bảo quản sản phẩm. [Nguồn: Tiêu chuẩn sản phẩm Nghị định thư GHG:2011] |
6.4.1.2 Hướng dẫn ngành kỹ thuật điện
Ranh giới hệ thống xác định các quá trình đơn vị trong vòng đời của sản phẩm EE được nghiên cứu sẽ được đánh giá về mặt thu thập dữ liệu và tính toán phát thải và loại bỏ GHG.
Việc thiết lập ranh giới hệ thống phải nhất quán với mục tiêu của nghiên cứu. Tiêu chuẩn này khuyến cáo tuân theo "6.2 Xác định mục tiêu và phạm vi" đối với các mục cần được xem xét khi xác định mục tiêu và phạm vi.
Ví dụ về các khía cạnh khi thiết lập ranh giới hệ thống
Các hạng mục sau đây là ví dụ về các khía cạnh có thể hữu ích để xem xét khi thiết lập ranh giới hệ thống và được sử dụng làm danh sách kiểm tra để giúp nắm bắt tất cả các hoạt động liên quan đến tác động vòng đời của hệ thống sản phẩm được đánh giá. Khả năng áp dụng các khía cạnh này cần được xem xét cho từng giai đoạn của vòng đời được nêu trong 6.4.1. Tuy nhiên, một số khía cạnh có thể phù hợp với các sản phẩm và hệ thống kỹ thuật điện nhất định hơn các khía cạnh khác.
Các hạng mục này được coi là hữu ích cho việc thiết lập ranh giới hệ thống, nhưng không bắt buộc phải cấu trúc dữ liệu hoặc báo cáo dựa trên các danh mục này (ví dụ: nhiều nghiên cứu được ưa thích cấu trúc lượng phát thải được báo cáo dựa trên các giai đoạn của vòng đời).
• Phần cứng
Hạng mục này đề cập đến tác động đến vòng đời của phần cứng sản phẩm EE, (ví dụ: bảng mạch in và các bộ phận cơ khí), việc sử dụng vật liệu và mức tiêu thụ năng lượng cần được xem xét ở từng giai đoạn của vòng đời.
• Phần mềm
Hạng mục này đề cập đến tác động đến vòng đời (bao gồm thiết kế, phát triển và sử dụng) của phần mềm sản phẩm EE (ví dụ: phần mềm theo yêu cầu riêng, phần mềm đóng gói, phần mềm trung gian và hệ điều hành). Ví dụ về tác động của phần mềm là việc các nhà thiết kế sử dụng điện và giấy.
Trong thực tế, có thể không nên phân biệt giữa Phần cứng và Phần mềm khi đánh giá giai đoạn sử dụng.
• Vật tư tiêu hao, thiết bị ngoại vi và các sản phẩm hỗ trợ khác
Hạng mục này đề cập đến tác động trong vòng đời của các vật tư tiêu hao và các sản phẩm ngoại vi khác có thể cần thiết hoặc được cung cấp để sử dụng các sản phẩm EE. Ví dụ, chúng bao gồm phương tiện thông tin (ví dụ: CD và DVD) và hộp mực máy in và cũng có thể bao gồm thiết bị làm mát và cung cấp điện cũng như các bản in thông tin (ví dụ: sách hướng dẫn).
• Vật liệu đóng gói/vận chuyển
Hạng mục này đề cập đến tác động trong vòng đời của việc đóng gói hoặc vận chuyển vật liệu cần thiết cho việc vận chuyển các sản phẩm EE.
Cần xem xét tất cả các vật liệu đóng gói (cấp 1, cấp 2 và cấp 3) bao gồm cả bao bì bán lẻ cho người tiêu dùng cuối cùng.
• Lưu trữ hàng hóa
Hạng mục đề cập đến việc lưu trữ các sản phẩm EE như hệ thống hoàn thiện, linh kiện, vật liệu, v.v., ở nơi lưu trữ thích hợp. Điều này đặc biệt lưu ý rằng việc tiêu thụ năng lượng để làm mát và chiếu sáng cần được xem xét.
• Vận tải (vận chuyển hàng hóa)
Hạng mục này đề cập đến tác động từ việc vận chuyển liên quan đến vòng đời của các sản phẩm EE như hệ thống hoàn thiện, linh kiện, vật liệu, v.v. Điều này cũng bao gồm việc sử dụng nhiên liệu cũng như chuỗi cung ứng nhiên liệu của ô tô, tàu hỏa, xe buýt.v.v.
Chuỗi cung ứng nhiên liệu cần được xem xét, ngược lại, lượng khí thải gắn liền với các phương tiện được coi là không thuộc tính. Vận chuyển là một hoạt động diễn ra thường xuyên, tạo thành một phần của tất cả các giai đoạn trong vòng đời được mô tả ở 6.4.1, tức là việc phân phối sản phẩm không phải là hoạt động vận chuyển duy nhất có liên quan.
Mục đích của việc xác định các mục trên là để đảm bảo rằng tất cả các tác động liên quan đều được xem xét cho từng giai đoạn của vòng đời khi xác định mục tiêu, phạm vi và thiết lập ranh giới hệ thống của hệ thống sản phẩm.
6.4.2 Giai đoạn vòng đời và bản đồ quá trình
6.4.2.1 Xác định các giai đoạn của vòng đời
6.4.2.1.1 Điều khoản trong tiêu chuẩn CFP và LCA
Các tiêu chuẩn CFP và LCA cung cấp các yêu cầu sau về "giai đoạn vòng đời"
|
Nghiên cứu CFP đánh giá lượng phát thải và loại bỏ GHG trong vòng đời của sản phẩm. Các quá trình đơn vị bao gồm hệ thống sản phẩm phải được nhóm thành các giai đoạn của vòng đời; ví dụ: thu mua nguyên liệu thô, sản xuất, phân phối, sử dụng và kết thúc vòng đời. Các phát thải và loại bỏ GHG trong vòng đời của sản phẩm phải được ấn định cho giai đoạn của vòng đời sản phẩm trong đó xảy ra phát thải và loại bỏ GHG. CFP từng phần có thể được cộng lại với nhau để định lượng CFP với điều kiện là chúng được thực hiện theo cùng một phương pháp. [...] Khi có PCR hoặc CFP-PCR liên quan thì chúng phải được chấp nhận. [...] [Nguồn: ISO/DIS 140670.3] |
|
Công ty phải báo cáo các định nghĩa và mô tả các giai đoạn của vòng đời. Các giai đoạn được kết nối với nhau tạo nên vòng đời của sản phẩm và đây là cách hữu ích để tổ chức các quá trình, thu thập dữ liệu và kết quả kiểm kê. [...] [Nguồn: Tiêu chuẩn sản phẩm Nghị định thư GHG:2011] |
6.4.2.1.2 Hướng dẫn ngành kỹ thuật điện
Tiêu chuẩn này khuyến cáo rằng vòng đời nên được xác định bằng cách xem xét các giai đoạn điển hình sau đây vì chúng có thể áp dụng cho hầu hết các sản phẩm EE.
• Thu thập nguyên liệu thô;
• Sản xuất, lắp ráp linh kiện;
• Phân phối (bao gồm kho bãi, bán lẻ và lắp đặt);
• Sử dụng và bảo trì;
• Cuối vòng đời (tái chế và thải bỏ).
CHÚ THÍCH 1: Các giai đoạn này liên quan đến việc định lượng và các giai đoạn giống nhau không nhất thiết liên quan đến việc truyền thông.
Hướng dẫn sau đây cung cấp các ví dụ về ranh giới giai đoạn vòng đời, mô tả và các quá trình có thể phân bổ.
• Thu mua nguyên liệu thô
Giai đoạn này bao gồm khai thác vật liệu từ khoáng sản, khai thác nhiên liệu hóa thạch, chuyển đổi nhiên liệu hóa thạch,v.v. sang hóa dầu và nhựa, v.v. Giai đoạn này có thể liên quan đến việc sử dụng cả năng lượng trực tiếp và gián tiếp.
• Sản xuất và lắp ráp linh kiện
Do sự phức tạp của một số thành phần trong các thiết bị điện tử hiện đại, việc sản xuất các linh kiện này có thể nhiều xét về cả lượng phát thải trực tiếp và gián tiếp.
Các yếu tố tác động chính trong quá trình sản xuất và lắp ráp sẽ thay đổi tùy theo chức năng của hệ thống/sản phẩm đầu mối đang được nghiên cứu (và khi công nghệ thay đổi). Tuy nhiên, với suy nghĩ này, công việc trước đây trong một số cộng tác trong ngành dành cho các sản phẩm EE đã định lượng nhất quán các linh kiện sau là có tác động tổng thể thấp trong một thiết bị/sản phẩm lớn hơn: chất hàn, các thành phần nhựa riêng lẻ (ngoài vật liệu vỏ), điện trở, điốt, và công tắc. Do đó, những mục này thường không yêu cầu tập trung chi tiết hoặc thu thập dữ liệu chi tiết khi nghiên cứu một thiết bị lớn hơn có chứa các thành phần như vậy. Những thay đổi đột ngột về tác động đến sản xuất có thể dịch chuyển việc tập trung này.
Đối với thiết bị điện tử trên bảng mạch in được trang bị các linh kiện, người ta thường cho rằng lượng phát thải GHG từ việc sản xuất một linh kiện điện tử riêng lẻ chỉ đóng góp nhỏ vào đánh giá tổng thể, ở mức có thể bỏ qua các biến đổi trong kết quả tính toán. Lượng phát thải GHG có thể được tính toán cho từng hạng mục 'bảng mạch/bộ phận điện tử dân dụng'
Các trường hợp ngoại lệ bao gồm một số bộ phận điện tử phức tạp có đóng góp CFP một phần lớn sẽ có ý nghĩa quan trọng trong các ứng dụng năng lượng thấp.
CHÚ THÍCH 2: Trong ước tính thử và quyết định về giới hạn, tiêu chuẩn này khuyến khích thực hiện ước tính ban đầu về sự đóng góp của các bộ phận điện tử cụ thể để xác định xem sự đóng góp có đáng kể hay không. (Xem 6.5)
• Phân phối (bao gồm kho bãi, bán lẻ và lắp đặt)
Căn cứ vào đặc điểm của sản phẩm EE, cần xác định cụ thể kịch bản phân phối (bán lẻ). Kịch bản này có thể dựa trên cách tiếp cận trung bình để phân phối (bán lẻ) trên các khu vực nơi sản phẩm được đưa vào thị trường.
Đối với giai đoạn phân phối, tiêu chuẩn này khuyến cáo xem xét phát thải khí nhà kính liên quan đến giao thông vận tải. Về cơ bản, lượng phát thải khí nhà kính cần được tính toán phù hợp với phương thức vận chuyển (như máy bay, tàu thủy, phương tiện vận chuyển v.v).
CHÚ THÍCH 3: Các yếu tố liên quan đến phân phối có thể bao gồm việc sử dụng điện của kho, đồng hồ đo được sử dụng trong kho như pallet. Đặc biệt đối với sản phẩm cuối cùng, việc xem xét tác động của các hoạt động liên quan đến cơ sở nơi sản phẩm được bán và có thể nâng cao tính hoàn chỉnh của nghiên cứu CFP.
• Sử dụng và bảo trì
Nếu kết quả nghiên cứu CFP nhằm mục đích so sánh thì nên sử dụng một bộ hồ sơ (kịch bản) và các giá trị được tiêu chuẩn hóa, ví dụ: lượng carbon thải ra để tạo ra một kWh điện.
Dựa trên tính năng của sản phẩm EE, việc xác định kịch bản sử dụng là rất quan trọng (xem 6.9).
Giai đoạn bảo trì có thể có tác động đáng kể đến phát thải GHG của các sản phẩm EE và cần được xem xét. Tuy nhiên, đối với một số danh mục sản phẩm EE, có thể có lỗ hổng đáng kể.
Như đã nêu trong 6.4.1, các hoạt động vận hành và bảo trì có thể đóng góp đáng kể vào lượng phát thải GHG trong vòng đời của một sản phẩm EE và do đó cần được xem xét trong nghiên cứu CFP. Bảo trì thường bao gồm các quá trình tiếp cận theo thuộc tính, ví dụ như các quá trình sử dụng năng lượng (ví dụ: vận chuyển), các quá trình sử dụng vật liệu hóa học. Tuy nhiên, bảo trì cũng có thể bao gồm các quá trình như hoạt động của con người ở dịch vụ điện thoại trung tâm phổ biến trong lĩnh vực dịch vụ ICT hoặc việc sử dụng các tòa nhà. Các quá trình không tiếp cận theo thuộc tính có thể bỏ qua khỏi giai đoạn vòng đời "bảo trì" nếu quá trình này là không đáng kể (xem 6.4.2).
• Cuối vòng đời (tái sử dụng, tái chế và thải bỏ)
Các sản phẩm EE phải tuân thủ các yêu cầu pháp lý và quy định có liên quan của mỗi quốc gia liên quan đến cuối vòng đời của chúng.
Nếu sản phẩm có thể được tái chế và tái sử dụng làm vật liệu, v.v. thì lượng vật liệu hoặc năng lượng được thu hồi và tiêu hao trong quá trình tái chế cũng có thể được xem xét và đưa vào tính toán.
Đối với chất làm lạnh và các vật liệu khác như vật liệu cách nhiệt có chứa chất thổi, lượng phát thải khí nhà kính phải được tính toán sau khi tính đến việc thu gom (6.10).
Tiêu chuẩn này khuyến cáo khi tính toán lượng phát thải khí nhà kính phải bao gồm cả việc vận chuyển các sản phẩm đã qua sử dụng ở giai đoạn cuối vòng đời.
Nhiều sản phẩm EE ảnh hưởng đến việc sử dụng năng lượng của các sản phẩm khác không nằm trong ranh giới hệ thống của chúng. Ví dụ, bộ truyền động tần số thay đổi (VFD) làm giảm đáng kể lượng năng lượng mà động cơ sử dụng trong cơ sở công nghiệp.
6.4.2.2 Lựa chọn các giai đoạn vòng đời
6.4.2.2.1 Điều khoản trong tiêu chuẩn CFP và LCA
Để lựa chọn các giai đoạn vòng đời bên trong ranh giới hệ thống, tiêu chuẩn này xác định hai tùy chọn điển hình:
• Toàn bộ vòng đời, tức là từ bắt đầu đến kết thúc vòng đời;
• Từng phần vòng đời, ví dụ: từ bắt đầu đến cổng hoặc cổng đến cổng.
|
Việc thiết lập ranh giới hệ thống có thể khác nhau tùy thuộc vào mục đích sử dụng của nghiên cứu CFP. Trong trường hợp việc đánh giá CFP nhằm mục đích truyền đạt tới người tiêu dùng thì việc định lượng CFP phải bao gồm tất cả các giai đoạn của vòng đời, nếu không có quy định khác trong 9.6.2. Đối với việc sử dụng "doanh nghiệp với doanh nghiệp trong chuỗi cung ứng", ngoại trừ CFP một phần đại diện cho cổng vào, CFP một phần ở mức tối thiểu phải thể hiện sự phát thải và loại bỏ GHG từ đầu đến cuối phát sinh từ tất cả các giai đoạn, quá trình/mô-đun trở lên đến điểm sản phẩm rời khỏi địa điểm sản xuất (“cổng”). Bất kỳ CFP một phần cổng đến cổng nào cũng phải hợp lý. Đối với các ứng dụng nội bộ (ví dụ: sử dụng nội bộ doanh nghiệp, tối ưu hóa chuỗi cung ứng hoặc hỗ trợ thiết kế), CFP một phần có thể dựa trên sự phát thải và loại bỏ GHG phát sinh từ một số giai đoạn hạn chế trong vòng đời của sản phẩm. [...] [Nguồn: ISO/DIS 14067] |
|
Giới hạn cho các sản phẩm cuối cùng phải bao gồm lượng loại bỏ và phát thải từ đầu đến cuối từ khi mua sắm nguyên liệu cho đến khi kết thúc vòng đời. Đối với các sản phẩm trung gian, nếu biết chức năng của sản phẩm cuối cùng tương ứng, công ty nên hoàn thành việc kiểm kê từ đầu đến cuối. [...] Ranh giới của kiểm kê từng phần vòng đời từ đầu đến cuối không được bao gồm việc sử dụng sản phẩm hoặc các quá trình cuối vòng đời trong kết quả kiểm kê. Các công ty phải tiết lộ và giải trình khi xác định nguyên tắc từ đầu đến cuối trong báo cáo kiểm kê. [Nguồn: Tiêu chuẩn sản phẩm Nghị định thư GHG: 2011] |
6.4.2.2.2 Hướng dẫn ngành kỹ thuật điện
Trong các sản phẩm EE, toàn bộ vòng đời (từ bắt đầu đến kết thúc vòng đời) cần được nghiên cứu cho sản phẩm cuối cùng. Mặt khác, một sản phẩm trung gian có thể được nghiên cứu theo vòng đời từng phần của nó (từ đầu đến cổng). Ví dụ:
Toàn bộ vòng đời (từ đầu đến cuối) có thể áp dụng cho các sản phẩm cuối cùng, ví dụ: tủ lạnh gia đình, v.v.
Vòng đời từng phần (từ đầu đến cổng) có thể áp dụng cho các sản phẩm trung gian, ví dụ: máy biến áp, v.v. Khách hàng ở chuỗi cung ứng sau có thể hiểu rõ hơn về tác động toàn bộ vòng đời của các sản phẩm trung gian, đặc biệt khi năng lượng tiêu thụ trong giai đoạn sử dụng EE thường chiếm ưu thế trong tính toán dấu vết GHG trong vòng đời.
CHÚ THÍCH 1: Khi chọn vòng đời một phần, Nghị định thư GHG không cho phép đưa giai đoạn sử dụng hoặc giai đoạn cuối vòng đời vào CFP một phần.
Ngay cả trong trường hợp sản phẩm trung gian, khách hàng có thể yêu cầu phát thải khí nhà kính từ các quá trình cuối vòng đời sản phẩm trên quan điểm khả năng tái chế. Dữ liệu đó phải được báo cáo riêng và không được đưa vào kết quả CFP dựa trên vòng đời một phần.
Tổ chức chế tạo sản phẩm trung gian có thể làm việc với khách hàng của mình để đánh giá vòng đời từ đầu đến cuối dựa trên sự đóng góp của (các) sản phẩm trung gian vào quá trình sử dụng và giai đoạn cuối vòng đời, để hiểu rõ hơn về CFP liên quan đến sản phẩm của mình và giúp tập trung nỗ lực thiết kế có ý thức về môi trường.
6.4.2.3 Vẽ bản đồ quá trình
6.4.2.3.1 Điều khoản trong tiêu chuẩn CFP và LCA
Bản đồ quá trình minh họa các dịch vụ, vật liệu và năng lượng cần thiết cho sản phẩm trong suốt vòng đời của nó. Các tiêu chuẩn CFP và LCA cung cấp các yêu cầu sau về "bản đồ quá trình":
|
6.3.4 Liên kết dữ liệu với đơn vị quá trình và đơn vị chức năng Một luồng thích hợp phải được xác định cho mỗi quá trình đơn vị. Dữ liệu đầu vào và đầu ra định lượng của quá trình đơn vị phải được tính toán liên quan đến luồng này. Dựa trên biểu đồ luồng và các luồng giữa các quá trình đơn vị, các luồng của tất cả các quá trình đơn vị có liên quan đến luồng tham chiếu. Việc tính toán phải liên kết dữ liệu đầu vào và đầu ra của hệ thống với đơn vị chức năng. Cần thận trọng khi tổng hợp đầu vào và đầu ra trong hệ thống sản phẩm. Mức độ tổng hợp phải nhất quán với mục tiêu của nghiên cứu CFP. [...] Nguồn: ISO/DIS 14067] |
|
Các công ty phải báo cáo các quá trình có thể phân bổ dưới dạng bản đồ quá trình. [Nguồn: Tiêu chuẩn sản phẩm Nghị định thư GHG: 2011] |
6.4.2.3.2 Hướng dẫn ngành kỹ thuật điện
Tiêu chuẩn này khuyến nghị nên cân nhắc những điều sau khi xây dựng bản đồ quá trình và xác định các quá trình để thu thập dữ liệu sơ cấp:
• Chỉ đưa vào bản đồ quá trình các quá trình có thể truy xuất nguồn gốc theo từng giai đoạn trong vòng đời đã được xác định.
• Sau đó, xác định các quá trình thuộc quyền sở hữu hoặc kiểm soát của tổ chức.
CHÚ THÍCH: Tổ chức sở hữu hoặc kiểm soát một quá trình nếu nó nằm dưới sự kiểm soát tài chính hoặc hoạt động của tổ chức. Các tài liệu liên quan hiện có xác định hai loại kiểm soát: kiểm soát tài chính và kiểm soát hoạt động. Xem ISO 14064-1 để biết thêm thông tin, Tiêu chuẩn chuỗi giá trị của tổ chức theo Nghị định thư GHG (Phạm vi 3), v.v.
Khi xây dựng bản đồ quá trình, tiêu chuẩn này khuyến cáo cần xem xét những điều dưới đây:
• Xác định các đầu vào thành phần và các quá trình ngược dòng;
• Xác định các luồng năng lượng và vật chất được kết nối trực tiếp;
• Xác định các quá trình xuôi dòng và luồng năng lượng/vật chất;
• Liên hệ từng quá trình với giai đoạn vòng đời tương ứng;
• Liên hệ đầu vào và đầu ra với quá trình tương ứng;
• Minh họa các quá trình quy cho cũng như đầu vào và đầu ra của chúng, định vị các quá trình theo từng giai đoạn trong vòng đời để có thể xác định rõ mối quan hệ tương hỗ của chúng.
Khi phát triển dữ liệu, thông tin về luồng khối lượng của các bộ phận và vật liệu rất hữu ích. Vì vậy, nên phát triển một “luồng nguyên liệu” thể hiện đầu vào và đầu ra theo khối lượng.
Tiêu chuẩn này khuyến cáo mô tả luồng tham chiếu bằng cách sử dụng Danh mục vật liệu (BOM). Danh mục vật liệu (BOM) thể hiện các linh kiện, vật liệu và cụm lắp ráp nhỏ được sử dụng trong sản phẩm và có sẵn trong hầu hết các trường hợp sản phẩm EE. Khi có sẵn BOM, đây có thể là chỉ số dễ dàng nhất để định hướng việc xác định các quá trình có thể quy cho liên quan đến sản phẩm. Tiêu chuẩn này khuyến cáo xác định các thành phần và vật liệu được sử dụng trong chế tạo và khảo sát khối lượng của từng thành phần hoặc vật liệu.
Bảng 1 - Ví dụ về BOM
|
Quy trình |
Các bộ phận |
Vật liệu |
Số |
Khối lượng |
|
|
kg/số |
kg/đơn vị |
||||
|
Quy trình A |
WWWW |
Thép (thép tấm mạ) |
1 |
|
|
|
XXXXXX |
Thép không gỉ |
1 |
|
|
|
|
YYYYYY |
Thép không gỉ |
2 |
|
|
|
|
zzzzzz |
Đồng |
1 |
|
|
|
|
Quy trình B |
WWWW |
Nhôm |
1 |
|
|
|
XXXXXX |
Nhôm |
1 |
|
|
|
|
YYYYYY |
Thép không gỉ |
1 |
|
|
|
|
zzzzzz |
Kim loại khác |
2 |
|
|
|
|
Quy trình C |
VWVWW |
Thép không gỉ |
1 |
|
|
|
xxxxxx |
PP |
1 |
|
|
|
|
YYYYYY |
ABS |
1 |
|
|
|
|
zzzzzz |
ABS |
2 |
|
|
|
|
Quy trình D |
WWWW |
Thủy tinh |
1 |
|
|
|
xxxxxx |
Vật liệu khác |
1 |
|
|
|
|
YYYYYY |
Bảng mạch/bộ phận điện tử |
1 |
|
|
|
|
Quy trình |
|
|
|
|
|
|
Tổng khối lượng trên một đơn vị sản phẩm X. |
|||||
6.4.3 Cách tiếp cận thuộc tính và hệ quả
6.4.3.1 Điều khoản trong tiêu chuẩn CFP và LCA
Các tiêu chuẩn CFP và LCA cung cấp các yêu cầu sau về "cách tiếp cận theo thuộc tính"
|
Kiểm kê phát thải khí nhà kính (GHG) phải tuân theo các cách tiếp cận vòng đời và cách tiếp cận theo thuộc tính. [...] Các yêu cầu và hướng dẫn trong tiêu chuẩn này tuân theo cách tiếp cận theo thuộc tính để tính toán vòng đời sản phẩm. Cách tiếp cận theo thuộc tính được định nghĩa là một phương pháp trong đó phát thải và loại bỏ GHG được quy về đơn vị phân tích sản phẩm được nghiên cứu bằng cách liên kết các quá trình có thể tiếp cận theo thuộc tính với nhau trong suốt vòng đời của chúng. [...] [Nguồn. Tiêu chuẩn sản phẩm Nghị định thư GHG:2011] |
Các tiêu chuẩn CFP và LCA mô tả "các quá trình không tiếp cận theo thuộc tính" như sau:
|
Một số luồng dịch vụ, vật chất và năng lượng không được kết nối trực tiếp với sản phẩm được nghiên cứu trong suốt vòng đời của sản phẩm vì chúng không trở thành sản phẩm, tạo ra sản phẩm hoặc trực tiếp vận chuyển sản phẩm trong suốt vòng đời của sản phẩm. Chúng được định nghĩa là các quá trình không thể tiếp cận theo thuộc tính. Ví dụ bao gồm các luồng dịch vụ, vật chất và năng lượng do: - Hàng hóa vốn (ví dụ, máy móc, xe tải, cơ sở hạ tầng). - Hoạt động trên cao (ví dụ: chiếu sáng cơ sở, điều hòa không khí). - Các hoạt động và dịch vụ của công ty (ví dụ: nghiên cứu và phát triển, chức năng hành chính, bán hàng và tiếp thị của công ty). - Vận chuyển người sử dụng sản phẩm đến địa điểm bán lẻ. - Đưa đón nhân viên đi làm đến công xưởng. […] Các công ty không bắt buộc phải bao gồm các quá trình không thể tiếp cận theo thuộc tính. Tuy nhiên, nếu các quá trình không thể tiếp cận theo thuộc tính được đưa vào ranh giới, các công ty phải tiết lộ điều này trong báo cáo kiểm kê. [Nguồn: Tiêu chuẩn sản phẩm Nghị định thư GHG:2011] |
Các tiêu chuẩn CFP và LCA mô tả "cách tiếp cận mang tính hệ quả" như sau:
|
Cách tiếp cận hệ quả được định nghĩa là cách tiếp cận trong đó các quá trình được đưa vào ranh giới vòng đời ở mức độ mà chúng dự kiến sẽ thay đổi do sự thay đổi về nhu cầu đối với đơn vị phân tích. Cách tiếp cận hệ quả sử dụng dữ liệu không bị hạn chế và có thể đáp ứng những thay đổi về nhu cầu (ví dụ: thông tin công nghệ cận biên), trong đó thay đổi về nhu cầu có thể xảy ra do thay đổi về khối lượng sản xuất, công nghệ sản xuất, chính sách công và hành vi của người tiêu dùng. Mặc dù không được tuân thủ trong tiêu chuẩn này, cách tiếp cận theo hệ quả có thể cung cấp cái nhìn sâu sắc có giá trị trong một số ứng dụng nhất định như đánh giá các dự án giảm phát thải hoặc đưa ra các quyết định chính sách công. [Nguồn: Tiêu chuẩn sản phẩm Nghị định thư GHG:2011] |
6.4.3.2 Hướng dẫn ngành kỹ thuật điện
Ngoại trừ các trường hợp đặc biệt, cách tiếp cận thuộc tính là đủ cho nghiên cứu CFP về các sản phẩm EE.
Khi chỉ tuân theo cách tiếp cận theo thuộc tính đối với nghiên cứu CFP cho các sản phẩm EE lả chưa đủ, nghiên cứu có thể bao gồm các quá trình không thể quy cho trong ranh giới hoặc thực hiện một cách tiếp cận khác, ví dụ: xem xét "cách tiếp cận mang tính hệ quả" (xem 3.17).
6.4.4.1 Điều khoản trong tiêu chuẩn CFP và LCA
Các tiêu chuẩn CFP và LCA cung cấp các yêu cầu sau về "ranh giới thời gian"
|
6.2.7 Ranh giới thời gian cho dữ liệu Ranh giới thời gian của dữ liệu là khoảng thời gian mà số liệu định lượng cho CFP mang tính đại diện. Khoảng thời gian mà CFP mang tính đại diện phải được chỉ định và chứng minh. Khi phát thải và loại bỏ GHG liên quan đến các quá trình đơn vị cụ thể trong vòng đời của sản phẩm thay đổi theo thời gian thì dữ liệu phải được thu thập trong khoảng thời gian thích hợp để thiết lập mức phát thải và loại bỏ GHG trung bình liên quan đến vòng đời của sản phẩm. Nếu việc sản xuất một sản phẩm gắn liền với một khoảng thời gian cụ thể [...] thì việc đánh giá phát thải và loại bỏ GHG phải bao gồm khoảng thời gian cụ thể đó trong vòng đời của sản phẩm. Bất kỳ hoạt động nào xảy ra ngoài khoảng thời gian đó cũng phải được đưa vào với điều kiện là chúng có liên quan đến việc sản xuất sản phẩm [...]. Những dữ liệu về phát thải và loại bỏ GHG này phải được liên kết hợp lý với đơn vị chức năng. [Nguồn: ISO/DIS 14067] |
|
Các công ty phải báo cáo khoảng thời gian kiểm kê. Khoảng thời gian kiểm kê là khoảng thời gian mà một sản phẩm được nghiên cứu cần để hoàn thành vòng đời của nó, từ khi vật liệu được khai thác từ tự nhiên cho đến khi chúng được trả về tự nhiên khi hết vòng đời (ví dụ: đốt) hoặc rời khỏi sản phẩm được nghiên cứu. vòng đời của sản phẩm (ví dụ: tái chế) [Nguồn: Tiêu chuẩn báo cáo và tính toán vòng đời sản phẩm của GHG Protocol] |
6.4.4.2 Hướng dẫn ngành kỹ thuật điện
Khi thiết lập ranh giới hệ thống, cần phải mô tả ranh giới thời gian cho dữ liệu hoặc khoảng thời gian mà nghiên cứu CFP có liên quan.
Ranh giới thời gian cho một nghiên cứu CFP thường được xác định bằng cách tổng hợp giai đoạn sản xuất từ đầu đến cổng, giai đoạn sử dụng dựa trên quy định kỹ thuật thiết kế và kinh nghiệm thực tế cũng như thời gian xử lý ước tính cuối đời.
Trong ranh giới thời gian, phần dành cho từng giai đoạn của vòng đời cũng phải được ghi lại riêng biệt và minh bạch, đặc biệt khi vòng đời của sản phẩm kéo dài qua nhiều năm.
Ranh giới về thời gian rất quan trọng đối với mục đích so sánh và cần được xem xét khi xây dựng các quy tắc về chủng loại sản phẩm.
6.4.5 Các nguồn và bể hấp thụ GHG cụ thể
6.4.5.1 Điều khoản trong tiêu chuẩn CFP và LCA
Cả ISO/DIS 14067 và Tiêu chuẩn Sản phẩm Nghị định thư GHG đều đặc biệt chú ý đến các mục sau:
• Các-bon sinh học
• Thay đổi sử dụng đất (LUC)
• Thay đổi các-bon trong đất
• Lưu trữ các-bon của sản phẩm
• Thu gom và lưu trữ các-bon (CCS)
• Điện
6.4.5.2 Hướng dẫn ngành kỹ thuật điện
Nhìn chung, việc xem xét các nguồn và bể hấp thụ GHG được liệt kê ở trên là không cần thiết đối với các sản phẩm EE ngoại trừ một số trường hợp ngoại lệ:
Carbon sinh học nên được xem xét nếu ví dụ: nhựa sinh học có nguồn gốc từ thực vật được sử dụng trong các sản phẩm EE. Khi nhựa sinh học được sử dụng trong sản phẩm EE, lượng phát thải khí nhà kính phát ra khi đốt nhựa sinh học ở giai đoạn xử lý/tái chế và loại bỏ khí nhà kính trong quá trình ban đầu của nó, tức là trồng cây, phải được ghi lại riêng với nguồn các-bon hóa thạch khi áp dụng.
Cần xem xét phát thải khí nhà kính từ những thay đổi sử dụng đất trực tiếp và gián tiếp (dLUC và ILUC) nếu, ví dụ: polyme sinh học hoặc nhiên liệu sinh học được sử dụng, đầu tư vào lĩnh vực xanh đáng kể được thực hiện.v.v.
Việc lưu trữ carbon của sản phẩm nên được xem xét nếu ví dụ: một sản phẩm sử dụng gỗ và nỏ sẽ được chôn lấp. Trong trường hợp đó, việc lưu giữ các-bon của sản phẩm có thể được tính toán và ghi chép riêng.
Đối với sự thay đổi các-bon trong đất, chưa có ví dụ nào được xác định cho tiêu chuẩn này.
Việc thu hồi và lưu trữ carbon (CCS) nên được xem xét, ví dụ: nếu GHG không được thải ra trong vòng đời của nhà máy điện vi chúng bị cô lập trong kho lưu trữ carbon hơn hàng trăm năm. Ngay cả trong trường hợp như vậy, đóng góp CCS cần được ghi lại bổ sung và riêng.
Đối với điện, khuyến cáo ISO/DIS 14067 có tầm quan trọng đặc biệt đối với các sản phẩm EE và cần được áp dụng. Sự sai lệch chỉ được chấp nhận với điều kiện cung cấp đủ sự minh bạch. Khi có được "chứng chỉ xanh" mà không sử dụng điện lưới, cần phải có lý do chính đáng để tránh tính hai lần.
CHÚ THÍCH: Để biết thêm thông tin về việc xem xét điện, xem ISO/DIS 14067, 6.3.9.3.
6.4.6.1 Điều khoản trong tiêu chuẩn CFP và LCA
Các tiêu chuẩn CFP và LCA mô tả “tiêu chí giới hạn” như sau.
|
4.2.3.3.3 Tiêu chí giới hạn để đưa vào ban đầu các đầu vào và đầu ra cũng như các giả định làm cơ sở cho tiêu chí giới hạn được thiết lập phải được mô tả rõ ràng. Ảnh hưởng đến kết quả nghiên cứu của các tiêu chí giới hạn được lựa chọn cũng phải được đánh giá và mô tả trong bản báo cáo cuối cùng. Một số tiêu chí giới hạn được sử dụng trong thực hành LCA để quyết định đầu vào nào sẽ được đưa vào đánh giá, chẳng hạn như khối lượng, năng lượng và tác động môi trường. Việc xác định ban đầu các đầu vào chỉ dựa trên đóng góp lớn có thể dẫn đến việc bỏ sót các đầu vào quan trọng khỏi nghiên cứu. Theo đó, tầm quan trọng về năng lượng và môi trường cũng nên được sử dụng làm tiêu chí giới hạn trong quá trình này. [...] Tiêu chí giới hạn tương tự cũng có thể được sử dụng để xác định đầu ra nào cần được truy xuất nguồn gốc từ môi trường, ví dụ: bằng cách bao gồm các quá trình xử lý chất thải cuối cùng. Trong trường hợp nghiên cứu dự định sử dụng trong các xác nhận so sánh nhằm công bố cho công chúng thì phân tích độ nhạy cuối cùng của dữ liệu đầu vào và đầu ra phải bao gồm các tiêu chí về khối lượng, năng lượng và hiệu quả môi trường sao cho tất cả các sản phẩm tích lũy đóng góp nhiều hơn một số tiền xác định (ví dụ: tỷ lệ phần trăm) trên tổng số được đưa vào nghiên cứu. […]
[Nguồn: ISO 14044:2006] |
|
Tiêu chí giới hạn nhất quán cho phép bỏ qua một số quá trình có tầm quan trọng nhỏ phải được xác định trong giai đoạn xác định mục tiêu và phạm vi. Tác động của các tiêu chí giới hạn đã chọn đối với kết quả nghiên cứu cũng phải được đánh giá và mô tả trong báo cáo nghiên cứu CFP. [Nguồn: ISO/DIS 14067] |
|
Để xác định mức độ không đáng kể, công ty nên ước tính lượng phát thải của quá trình bằng cách sử dụng dữ liệu với các giả định giới hạn trên để xác định xem, trong trường hợp thận trọng nhất, quá trình này có đáng kể hay không dựa trên khối lượng, năng lượng hoặc thể tích cũng như các tiêu chí liên quan đến GHG. Để xác định xem một ước tính có đáng kể hay không, công ty cần thiết lập một định nghĩa về mức độ không đáng kể, có thể bao gồm quy tắc ngưỡng ngón tay cái. Ví dụ, nguyên tắc ngón tay cái cho mức độ không đáng kể có thể là các luồng vật chất hoặc năng lượng đóng góp ít hơn 1 % khối lượng, năng lượng hoặc thể tích và mức độ gây ra GHG ước tính trong một quá trình, giai đoạn vòng đời hoặc tổng lượng hàng tồn kho. [Nguồn: Tiêu chuẩn sản phẩm Nghị định thư GHG:2011] |
6.4.6.2 Hướng dẫn ngành kỹ thuật điện
Tiêu chí giới hạn nên được xác định và áp dụng tùy thuộc vào mục tiêu và phạm vi xác định cũng như thiết lập ranh giới của nghiên cứu. Khi CFP-PCR được áp dụng, tiêu chí giới hạn được sử dụng phải được xác định trong CFP-PCR.
Trong trường hợp mục tiêu và phạm vi của nghiên cứu CFP nhằm mục đích phân tích so sánh sản phẩm hiện tại và các mẫu trước đây, thì nên áp dụng tiêu chí giới hạn giống nhau cho cả hai.
Trong các tài liệu/sáng kiến hiện có bao gồm cả những tài liệu/sáng kiến xác định ở trên, tiêu chí giới hạn thường bao gồm một hoặc nhiều yếu tố.
Ví dụ về các yếu tố tiêu chí giới hạn
• Ràng buộc định tính, ví dụ:
- Không thể loại trừ tất cả các bảng mạch in.
• Ngưỡng định lượng
- Ngưỡng định lượng cho kết quả đầu ra,
Có thể loại trừ ít hơn 5 % tổng lượng phát thải ước tính.
- Ngưỡng định lượng cho đầu vào, ví dụ:
Có thể loại trừ ít hơn 5 % tổng khối lượng hoặc số lượng đầu vào vào bản đồ quá trình Bất kỳ sự kết hợp nào ở trên có thể được sử dụng để xác định tiêu chí giới hạn phù hợp.
Ví dụ - Tiêu chí giới hạn áp dụng cho nghiên cứu CFP về sản phẩm EE
Các tiêu chí trong chương trình PCF của Hàn Quốc dựa trên khối lượng vật liệu nói chung (cắt theo trọng lượng), nhưng cũng yêu cầu xác định các vật liệu và thành phần quan trọng được lựa chọn không bị cắt bỏ:
Tiêu chí trong JIS TS Q 0010 của Nhật Bản dựa trên phân tích LCA. Những bộ phận và vật liệu có lượng phát thải được giả định chính xác là nhỏ hơn mức tiêu chuẩn nhất định có thể được loại bỏ khỏi tính toán,
Trong dự án thí điểm PAIA, bằng cách cố gắng bao gồm các hoạt động một cách toàn diện, có một cách tiếp cận giới hạn để tránh cần phải có ngưỡng định lượng. Ước tính sơ bộ cho tất cả các hoạt động bao gồm cả mức độ không đảm bảo cao sẽ được thực hiện, sau đó là xác định danh sách ưu tiên để thu thập dữ liệu. Chi tiết hơn về phương pháp này được cung cấp trong phương pháp ước tính thử nghiệm, xem 6.5;
Trong ITU-T L 1410, tiêu chí giới hạn đang xem xét ý nghĩa về khối lượng, năng lượng và môi trường. Ý nghĩa môi trường đề cập đến sự đóng góp của phát thải khí nhà kính chẳng hạn.
CHÚ THÍCH: Để biết chi tiết về chương trình PCF của Hàn Quốc. TS Q 0010 và PAIA, xem Phụ lục B.
6.5 Ước tính thử và quyết định ranh giới cần giới hạn
6.5.1 Hướng dẫn ngành kỹ thuật điện
Việc sử dụng ước tính thử sẽ cung cấp các tiêu chí giới hạn thích hợp dựa trên khả năng thực hiện và tính sẵn có của dữ liệu quá trình. Để kiểm tra sự phù hợp, tổ chức có thể cần ước tính tổng lượng phát thải trong vòng đời. Cuộc thử nghiệm cung cấp giá trị gần đúng và liệu ngưỡng có thể được áp dụng dựa trên giá trị đó hay không. Nếu dữ liệu còn lại (không phải điểm giới hạn) thực tế khó có được, điều đó có nghĩa là tiêu chí giới hạn không phù hợp và cần phải thay đổi. Trước khi bắt đầu thu thập dữ liệu, tiêu chuẩn này khuyến nghị:
Kiểm tra tính sẵn có của dữ liệu và tính khả thi của việc thu thập dữ liệu.
Tiêu chuẩn này khuyến cáo nên thu thập dữ liệu có sẵn, ví dụ: dữ liệu sơ cấp, dữ liệu thứ cấp, dữ liệu proxy theo từng luồng tham chiếu. Sau đó, xác định dữ liệu nào có thể thu thập được.
Ước tính lượng phát thải khí nhà kính.
Để ước tính thử và ra quyết định liên quan đến ranh giới giới hạn, tiêu chuẩn này khuyến khích thực hiện ước tính ban đầu về sự đóng góp tương đối của các bộ phận điện tử cụ thể để xác định xem những đóng góp đó có đáng kể hay không.
Xác định các tiêu chí giới hạn và xác định các quá trình đơn vị hoặc hệ thống sản phẩm bị giới hạn.
Tiêu chuẩn này khuyến cáo nên hoàn thành việc lặp lại này trước khi tiến hành thu thập dữ liệu, việc này có thể tốn kém và tốn thời gian quá mức nếu được tiến hành với mức giới hạn không phù hợp tiêu chuẩn.
Ví dụ về phương pháp ước tính thử
Một phân tích thống kê cấp cao sử dụng mô phỏng được thực hiện để xác định các hoạt động trong vòng đời có tác động lớn nhất tới tác động và độ không đảm bảo.
Sau đó, việc thu thập dữ liệu có mục tiêu sẽ được thực hiện, dựa trên phân tích này, để xác nhận các tác động và giảm hơn nữa mức độ không đảm bảo đến mức mong muốn.
CHÚ THÍCH: Phụ lục D cung cấp thông tin bổ sung.
6.6 Thu thập dữ liệu và đánh giá chất lượng
6.6.1.1 Điều khoản trong tiêu chuẩn CFP và LCA
Nhiều tiêu chuẩn và sáng kiến của CFP và LCA đưa ra các yêu cầu liên quan đến việc thu thập dữ liệu sơ cấp hoặc dữ liệu cụ thể theo địa điểm. Tuy nhiên, định nghĩa của các thuật ngữ này khác nhau.
|
3.7.1 Dữ liệu sơ cấp Giá trị định lượng của một quá trình đơn vị (3.4.6) hoặc một hoạt động trong hệ thống sản phẩm (3.4.2) thu được từ phép đo trực tiếp hoặc phép tính dựa trên các phép đo trực tiếp tại nguồn ban đầu của nó. CHÚ THÍCH 1: Dữ liệu sơ cấp không nhất thiết phải bắt nguồn từ hệ thống sản phẩm (3.4.2) đang nghiên cứu. CHÚ THÍCH 2: Dữ liệu sơ cấp có thể bao gồm hệ số phát thải GHG (3.3.7) và/hoặc dữ liệu hoạt động GHG (ISO 14050:2009, 9.3.3). 3.7.2 Dữ liệu địa điểm cụ thể Dữ liệu thu được từ phép đo trực tiếp hoặc phép tính dựa trên phép đo trực tiếp tại nguồn ban đầu trong hệ thống sản phẩm (3.4.2). CHÚ THÍCH 1: Tất cả dữ liệu của địa điểm cụ thể là "dữ liệu sơ cấp" (3.7.1) nhưng không phải tất cả dữ liệu sơ cấp đều là dữ liệu của địa điểm cụ thể vì chúng cũng có thể liên quan đến hệ thống sản phẩm khác (3.4.2). 3.7.3 Dữ liệu thứ cấp Dữ liệu thu được từ các nguồn không phải là phép đo trực tiếp hoặc tính toán dựa trên các phép đo trực tiếp tại nguồn ban đầu trong hệ thống sản phẩm (3.4.2) CHÚ THÍCH: Các nguồn như vậy có thể bao gồm cơ sở dữ liệu, tài liệu đã xuất bản, kiểm kê quốc gia và các nguồn chung khác. [Nguồn: ISO/DIS 14067] |
|
6.2.6 Dữ liệu và chất lượng dữ liệu Dữ liệu tại địa điểm cụ thể phải được thu thập cho tất cả các quá trình riêng lẻ dưới sự kiểm soát tài chính hoặc hoạt động của tổ chức thực hiện nghiên cứu CFP và phải mang tính đại diện cho các quá trình mà chúng được thu thập. Dữ liệu theo địa điểm cụ thể nên được sử dụng cho các quá trình đơn vị có đóng góp đáng kể cho CFP, như được xác định trong phân tích độ nhạy. Dữ liệu cụ thể tại địa điểm bao gồm cả phát thải khí nhà kính và nguồn khí nhà kính cũng như việc loại bỏ và hấp thụ khí nhà kính góp phần vào: - dữ liệu từ một quá trình đơn vị cụ thể trong một địa điểm; [...] dữ liệu trung bình tại địa điểm, tức là mức trung bình đại diện của dữ liệu tại địa điểm cụ thể được thu thập từ các tổ chức trong hệ thống sản phẩm vận hành các quá trình tương đương. [...] Dữ liệu thứ cấp chỉ được sử dụng cho các đầu vào khi việc thu thập dữ liệu tại địa điểm cụ thể là không thể hoặc không thể thực hiện được hoặc cho các quá trình có tầm quan trọng nhỏ và có thể bao gồm dữ liệu tài liệu, dữ liệu tính toán, ước tính hoặc dữ liệu đại diện khác. Dữ liệu thứ cấp phải được ghi lại. [Nguồn. ISO/DIS 14067] |
|
dữ liệu sơ cấp dữ liệu được thu thập từ các quá trình cụ thể trong vòng đời của sản phẩm được nghiên cứu dữ liệu thứ cấp Xử lý dữ liệu không thuộc các quá trình cụ thể trong vòng đời của sản phẩm được nghiên cứu. [Nguồn: Tiêu chuẩn sản phẩm GHG Protocol: 2011] |
|
Các công ty phải thu thập dữ liệu sơ cấp cho tất cả các quá trình thuộc quyền sở hữu hoặc kiểm soát của họ. [Nguồn: Tiêu chuẩn sản phẩm Nghị định thư GHG:2011] |
|
6.7 Thu thập dữ liệu cụ thể [...] YÊU CẦU: Phải thu được dữ liệu cụ thể (bao gồm dữ liệu trung bình đại diện cho nhiều địa điểm dù là nội bộ hay do nhà cung cấp bên ngoài) cho tất cả các quá trình ưu tiên quan trọng/có liên quan và cho các quá trình ít quan trọng nếu có thể. [...] 6.8 Thu thập dữ liệu chung [...] YÊU CẦU: Dữ liệu chung chỉ được sử dụng nếu dữ liệu cho một quá trình cụ thể không có sẵn, không có ý nghĩa môi trường hoặc đề cập đến một quá trình nằm ngoài ranh giới hệ thống đã xác định. Dữ liệu chung phải đáp ứng tối đa các yêu cầu về chất lượng dữ liệu được quy định trong tài liệu hướng dẫn này. Tùy theo yêu cầu về chất lượng dữ liệu, dữ liệu chung phải được ưu tiên lấy nguồn theo hệ thống phân cấp được chỉ định. [Nguồn: Trung tâm nghiên cứu chung và môi trường DG của Ủy ban Châu Âu, Sản phẩm Hướng dẫn Dấu chân Môi trường, Dự thảo lần thứ 2] |
6.6.1.2 Hướng dẫn ngành kỹ thuật điện
Tiêu chuẩn này về cơ bản tuân theo hướng dẫn do Nghị định thư GHG đưa ra để thu thập "dữ liệu sơ cấp" ISO/DIS 14067 xác định việc thu thập "dữ liệu địa điểm cụ thể".
Theo ISO/DIS 14067, tất cả dữ liệu dành riêng cho địa điểm đều là "dữ liệu sơ cấp" nhưng không phải tất cả dữ liệu sơ cấp đều là dữ liệu địa điểm cụ thể. ISO/DIS 14067 không đưa ra hướng dẫn nào về việc xử lý dữ liệu sơ cấp không phải là dữ liệu địa điểm cụ thể. Vì vậy, ISO/DIS 14067 khó áp dụng.

Hình 2 - Phân tích mối quan hệ của ba loại dữ liệu theo ISO/DIS 14067
CHÚ THÍCH 1: Đối với nhiều sản phẩm EE, hầu như không thể thu thập được bộ dữ liệu sơ cấp toàn diện. Quan điểm này được Nghị định thư GHG ghi nhận.
CHÚ THÍCH 2: Đối với nhiều phân ngành ICT, các khuyến cáo chi tiết về yêu cầu chất lượng dữ liệu dựa trên dữ liệu cụ thể của tiểu ngành đại diện được cung cấp trong các tiêu chuẩn hiện hành (ITU-T, ETSI).
Việc thu thập dữ liệu là cần thiết cho các quá trình đơn vị và các hạng mục được xác định trong quá trình xác định ranh giới hệ thống.
Để thu thập dữ liệu, tiêu chuẩn này khuyến cáo như sau:
• Thu thập dữ liệu sơ cấp cho tất cả các quá trình thuộc quyền sở hữu hoặc kiểm soát của tổ chức.
Ví dụ về dữ liệu sơ cấp
Luồng tham chiếu của sản phẩm được nghiên cứu (ví dụ: khối lượng thành phẩm) có thể được sử dụng làm dữ liệu sơ cấp để nhân với hệ số phát thải khi tỷ lệ hiệu suất của sản phẩm EE cao.
• Thu thập dữ liệu thứ cấp cho các quá trình khác nếu chất lượng dữ liệu đạt yêu cầu.
Ví dụ về dữ liệu thứ cấp
Cơ sở dữ liệu vòng đời (cơ sở dữ liệu công cộng) hiện có ở một số quốc gia có thể được sử dụng làm dữ liệu thứ cấp nếu dữ liệu đó phù hợp với nghiên cứu (Xem Phụ lục A).
Nghị định thư GHG chỉ ra rằng "việc sử dụng luồng tham chiếu của sản phẩm được nghiên cứu (ví dụ: khối lượng thành phẩm) làm dữ liệu hoạt động của quá trình không được coi là dữ liệu sơ cấp.' Đúng hơn, mỗi đầu vào của quá trình tương phản với đầu ra (luồng tham chiếu), đồng thời tính đến năng suất của quá trình. Như trường hợp của quá trình lắp ráp các sản phẩm EE, luồng tham chiếu có thể được sử dụng làm dữ liệu sơ cấp khi năng suất đủ cao. Việc sử dụng luồng tham chiếu cần được đánh giá về mặt độ không đảm bảo đo.
6.6.2.1 Hướng dẫn ngành kỹ thuật điện
Cần thu thập dữ liệu sơ cấp cho tất cả các quá trình thuộc quyền sở hữu hoặc kiểm soát của tổ chức. Quá trình này có thể là thách thức đối với một số doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME) hoặc các tổ chức khác khi thiếu các đơn vị và nguồn lực nghiên cứu chuyên nghiệp.
CHÚ THÍCH 1: Dữ liệu trung bình tại địa điểm có thể sẵn có và có thể đưa ra giải pháp thay thế khả thi cho việc thu thập dữ liệu từ một quá trình đơn vị tại một địa điểm cụ thể.
Nếu thay đổi thiết kế so với sản phẩm tương tự trước đây không đáng kể thì có khả năng việc tính toán gần như không có sai sót có thể được thực hiện trong một số trường hợp dựa trên dữ liệu sản phẩm trước đây. Cũng có thể hình dung các cơ chế cho phép tính toán dự kiến dựa trên dữ liệu có sẵn trong giai đoạn nguyên mẫu/thiết kế và đánh giá lại trong một thời gian nhất định, dựa trên dữ liệu sơ cấp được tích lũy sau một khoảng thời gian nhất định.
Các tổ chức thường không thể thu thập đủ dữ liệu sơ cấp ngay sau khi đưa sản phẩm mới hoặc sản phẩm cải tiến ra thị trường hoặc khi lặp đi lặp lại việc sửa đổi mẫu sản phẩm trong một khoảng thời gian ngắn.
Mặt khác, tiêu chuẩn này khuyến khích giao tiếp với các nhà cung cấp về khả năng hợp tác trong chuỗi cung ứng để thu thập dữ liệu sơ cấp ngay cả khi các nhà cung cấp không thuộc quyền sở hữu hoặc kiểm soát của tổ chức. Một cách tiếp cận phổ biến đối với một tổ chức xử lý dữ liệu nhà cung cấp nhằm mục đích nghiên cứu CFP sẽ bao gồm những cách sau:
• Xác định định mức nguyên vật liệu của tổ chức;
• Yêu cầu công bố nguyên vật liệu từ nhà cung cấp dựa trên định mức nguyên vật liệu;
Tiêu chuẩn này khuyến cáo tổ chức nên làm việc với các nhà cung cấp bộ phận, vật liệu và dịch vụ của mình để có được CFP từng phần dựa trên dữ liệu sơ cấp của nhà cung cấp dành riêng cho nhà cung cấp khi có thể. Tổ chức nên khuyến khích các nhà cung cấp tính toán đóng góp CFP của họ dựa trên các tiêu chuẩn CFP hiện hành, quy tắc chủng loại sản phẩm và hướng dẫn. CFP từng phần sau đó sẽ được khai báo cho tổ chức.
CHÚ THÍCH 2: Việc quản lý và phân tích dữ liệu nhà cung cấp các sản phẩm EE có thể phức tạp, ví dụ khi một bộ phận hoặc linh kiện được sản xuất hoặc lắp ráp qua hai đến ba cấp độ của chuỗi cung ứng.
6.6.3.1 Hướng dẫn ngành kỹ thuật điện
Tổ chức có thể sử dụng dữ liệu quá trình không thuộc các quá trình cụ thể trong vòng đời của sản phẩm làm dữ liệu thứ cấp, ví dụ
• Dữ liệu từ các nguồn bên ngoài (ví dụ cơ sở dữ liệu vòng đời, hiệp hội ngành, v.v.);
• Dữ liệu từ quá trình hoặc hoạt động khác và tương tự trong sự kiểm soát của tổ chức hoặc nhà cung cấp.
Phụ lục A cung cấp danh sách cơ sở dữ liệu vòng đời (cơ sở dữ liệu công cộng) hiện có ở một số quốc gia.
Ví dụ về thu thập dữ liệu thứ cấp cho sản xuất nguyên vật liệu
• Xác định vật liệu với khối lượng được sử dụng trong tủ lạnh: ví dụ: xx kg tấm thép, yy kg nhựa; zz kg linh kiện, v.v.
• Sau đó, trong ví dụ này, thu thập dữ liệu thứ cấp về tấm thép, nhựa, các linh kiện, v.v.
• Thu thập hệ số phát thải để nhân với khối lượng được xác định bằng dữ liệu sơ cấp hoặc dữ liệu thứ cấp thu thập được.
CHÚ THÍCH: cần có ứng dụng dữ liệu thứ cấp cụ thể cho các sản phẩm EE, chẳng hạn như các hóa chất có nồng độ và độ đặc hiệu cao. Trong trường hợp này, dữ liệu chung là không đủ.
6.6.4.1 Điều khoản trong tiêu chuẩn CFP và LCA
Các tiêu chuẩn CFP và LCA cung cấp các yêu cầu sau về "chất lượng dữ liệu":
|
Chất lượng dữ liệu phải được đặc trưng bởi cả khía cạnh định lượng và định tính. [...] Các yêu cầu về chất lượng dữ liệu phải được chỉ rõ để có thể đáp ứng được mục tiêu và phạm vi của nghiên cứu CFP. Các yêu cầu về chất lượng dữ liệu phải giải quyết những vấn đề sau: Phạm vi liên quan đến thời gian, phạm vi địa lý, phạm vi công nghệ; độ chính xác; sự đầy đủ; tính đại diện; Tính nhất quán; Khả năng tái lập; nguồn dữ liệu; và độ không đảm bảo của thông tin. CFP-PCR liên quan phải đưa ra hướng dẫn về các yêu cầu dữ liệu, đặc biệt trong nhũng điều kiện nào dữ liệu địa điểm cụ thể sẽ được sử dụng và khi nào việc sử dụng dữ liệu thứ cấp được chấp nhận. Các tổ chức thực hiện nghiên cứu CFP cần có một hệ thống quản lý dữ liệu và nên tìm cách liên tục cải tiến tính nhất quán và chất lượng của dữ liệu cũng như việc lưu giữ các tài liệu liên quan và các hồ sơ khác. [Nguồn: Tóm tắt ISO/DIS 14067) |
|
Đối với các quá trình quan trọng, công ty phải báo cáo mô tả về nguồn dữ liệu, chất lượng dữ liệu và mọi nỗ lực được thực hiện để cải thiện chất lượng dữ liệu. [Tiêu chuẩn sản phẩm Nghị định thư GHG:2011] |
6.6.4.2 Hướng dẫn ngành kỹ thuật điện
Tiêu chuẩn này cung cấp hướng dẫn để đánh giá mức độ liên quan của dữ liệu được thu thập liên quan đến từng quá trình, để lấp đầy những khoảng trống về dữ liệu và liên tục cải tiến chất lượng dữ liệu.
Tiêu chuẩn này khuyến cáo đánh giá mức độ liên quan của dữ liệu với mục tiêu và phạm vi cho từng quá trình có thể quy cho. Các khía cạnh để đánh giá mức độ phù hợp bao gồm: phạm vi liên quan đến thời gian; phạm vi địa lý; phủ sóng công nghệ; độ chính xác; sự đầy đủ; tính đại diện; tính nhất quán, khả năng tái tạo: nguồn dữ liệu; và độ không đảm bảo của thông tin như được minh họa trong ISO/DIS 14067.
Tiêu chuẩn này cũng khuyến cáo ghi lại kết quả đánh giá bao gồm mô tả về các loại dữ liệu có sẵn cho từng quá trình có thể tiếp cận theo thuộc tính, ví dụ: dữ liệu sơ cấp, dữ liệu thứ cấp, dữ liệu dựa trên tài liệu,...v.v. Nếu sử dụng dữ liệu thứ cấp, tổ chức nên ghi lại nguồn và lưu giữ hồ sơ về nguồn dữ liệu và tài liệu liên quan, đặc biệt khi tồn tại các rào cản trong việc đánh giá chất lượng dữ liệu.
CHÚ THÍCH: Nghị định thư GHG không yêu cầu phải báo cáo tuyên bố mô tả về nguồn dữ liệu, chất lượng dữ liệu và bất kỳ nỗ lực nào được thực hiện để cải thiện chất lượng dữ liệu cho các quá trình quan trọng, đồng thời lập báo cáo công khai.
Trong quá trình đánh giá, tổ chức có thể xác định những khoảng trống dữ liệu. Khoảng trống dữ liệu tồn tại khi không có dữ liệu sơ cấp hoặc thứ cấp nào đại diện đầy đủ cho quá trình nhất định trong vòng đời của sản phẩm. Khi cần thiết, tổ chức có thể lấp đầy khoảng trống dữ liệu bằng dữ liệu đại diện hoặc dữ liệu ước tính.
Quá trình thu thập dữ liệu có thể được cải thiện bằng cách tích hợp nó vào trong các hệ thống quản lý hiện có nếu sẵn có, ví dụ: hệ thống quản lý môi trường (EMS), hệ thống quản lý chất lượng (QMS), v.v.
6.7.1 Yêu cầu chung
6.7.1.1 Điều khoản trong tiêu chuẩn CFP và LCA
Các tiêu chuẩn CFP và LCA cung cấp các yêu cầu sau liên quan đến "phân tích kiểm kê"
|
6.3 Phân tích kiểm kê vòng đời của CFP 6.3.1 Yêu cầu chung LCI là giai đoạn LCA liên quan đến việc tổng hợp và định lượng đầu vào và đầu ra cho một sản phẩm trong suốt vòng đời của nó. Sau giai đoạn xác định mục tiêu và phạm vi, LCI của nghiên cứu CFP phải được thực hiện, bao gồm các bước sau, trong đó phải áp dụng các điều khoản thích hợp sau đây, được điều chỉnh từ ISO 14044:2006, được liệt kê dưới đây. Nếu CFP-PCR được áp dụng cho nghiên cứu CFP thì LCI phải được tiến hành theo các yêu cầu trong CFP-PCR (xem 6.1). 6.3.2 Thu thập dữ liệu Dữ liệu định tính và định lượng để đưa vào kiểm kê vòng đời phải được thu thập cho tất cả các quá trình đơn vị được bao gồm trong ranh giới hệ thống. Dữ liệu được thu thập, dù được đo, tính toán hay ước tính, đều được sử dụng để định lượng đầu vào và đầu ra của một quá trình đơn vị. Các quá trình đơn vị quan trọng phải được ghi lại. Khi dữ liệu được thu thập từ các nguồn chung, các nguồn này phải được tham chiếu trong báo cáo nghiên cứu CFP. Đối với những dữ liệu có thể có ý nghĩa quan trọng đối với kết luận của nghiên cứu CFP, chi tiết về quá trình thu thập dữ liệu liên quan, thời gian thu thập dữ liệu và thông tin thêm về chất lượng dữ liệu sẽ được tham chiếu. Nếu dữ liệu đó không đáp ứng các yêu cầu về chất lượng dữ liệu thì phải nêu rõ. [Nguồn. ISO/DIS 14067] |
6.7.1.2 Hướng dẫn ngành kỹ thuật điện
Phát thải khí nhà kính được định lượng trong từng quá trình cơ bản như được đề cập trong ranh giới hệ thống và được tổng hợp theo cách diễn đạt dưới đây.
Phát thải khí nhà kính trên mỗi giai đoạn vòng đời/quá trình đơn vị có thể được định lượng bằng cách nhân dữ liệu hoạt động với hệ số phát thải hoặc bằng phép đo trực tiếp. Đo lường trực tiếp là cần thiết cho một số trường hợp trong ngành EE, ví dụ: đối với chất làm lạnh và các vật liệu khác, bao gồm cả sự rò rì HFC PFC và SFS.
Dữ liệu hoạt động được nhân với hệ số phát thải khí nhà kính phải được tổ chức thu thập để tính toán phát thải khí nhà kính (tiêu thụ nguyên liệu, tiêu thụ điện cho sản xuất,...v.v.) hoặc được ước tính dựa trên kịch bản giả định (mức tiêu thụ điện sử dụng, khối lượng thu hồi, ...v.v.)
Bảng 2 thể hiện ví dụ về các loại dữ liệu có thể áp dụng (dữ liệu sơ cấp và dữ liệu thứ cấp) theo hoạt động, cho từng giai đoạn/quá trình đơn vị của vòng đời:
Bảng 2 - Ví dụ về các kiểu dữ liệu có thể áp dụng
|
Giai đoạn |
Hoạt động |
Các loại dữ liệu có thể áp dụng |
|
a) Thu mua nguyên liệu |
Số lượng tiêu thụ vật liệu |
Dữ liệu thứ cấp |
|
b) Sản xuất, chế tạo linh kiện |
Khối lượng lắp ráp |
Dữ liệu thứ cấp |
|
|
Tiêu thụ điện |
Dữ liệu sơ cấp |
|
c) Phân phối (bán lẻ) |
Khối lượng vận chuyển của xe (kg • km) = quãng đường vận chuyển x hệ số mang tải x tải trọng |
Dữ liệu sơ cấp hoặc thứ cấp |
|
d) Sử dụng và bảo trì |
Mức tiêu thụ điện năng sử dụng |
Dữ liệu sơ cấp hoặc thứ cấp cụ thể của sản phẩm |
|
e) Cuối vòng đời (tái chế và thải bỏ) |
Khối lượng thu hồi/khối lượng tái chế |
Dữ liệu sơ cấp hoặc thứ cấp cụ thể của sản phẩm |
Tổ chức cần thu thập các hệ số phát thải có thể áp dụng được để nhân với dữ liệu hoạt động.
Bảng 3 - Ví dụ về hệ số phát thải có thể áp dụng cho từng giai đoạn/quá trình của đơn vị vòng đời
|
Giai đoạn |
Hoạt động |
Hệ số phát thải |
|
a) Thu mua nguyên liệu thô |
Số lượng tiêu thụ vật liệu |
Hệ số phát thải khí nhà kính để sản xuất vật liệu/kg |
|
b) Sản xuất, chế tạo linh kiện |
Trọng lượng lắp ráp |
Hệ số phát thải khí nhà kính để lắp ráp vật liệu và linh kiện/kg |
|
|
Tiêu thụ điện |
Hệ số phát thải khí nhà kính để phát điện/kWh |
|
c) Phân phối (bán lẻ) |
Khối lượng vận chuyển của xe (kg • km) = quãng đường vận chuyển x hệ số mang tải x tải trọng |
Hệ số phát thải khí nhà kính đối với việc vận chuyển sản phẩm/kg • km |
|
d) Sử dụng và bảo trì |
Mức tiêu thụ điện năng sử dụng |
Hê số phát thải khí nhà kính để phát điện/kWh |
|
e) Cuối vòng đời (tái chế và thải bỏ) |
Khối lượng thu hồi/khối lượng tái chế |
Hệ số phát thải khí nhà kính để thu hồi/kg Hệ số phát thải GHG để tái sử dụng/kg |
Ví dụ về hệ số phát thải của điện năng
Khi khả thi, nên sử dụng hệ số phát thải điện cục bộ và dòng điện.
Một giải pháp thay thế là sử dụng hệ số phát thải trung bình thế giới mới nhất do Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA) cung cấp.
CHÚ THÍCH: Các hệ số phát thải từ IEA, eGrid hoặc các nguồn khác có liên quan với mức độ không đảm bảo nhất định. Tuy nhiên, ảnh hưởng của sai số trong hệ số phát thải trung bình có thể được giải quyết bằng thông tin giải quyết độ không đảm bảo. Để phản ánh tác động của nơi sản phẩm được sản xuất và nơi sản phẩm được sử dụng trong nghiên cứu CFP, tốt nhất nên sử dụng các hệ số phát thải phù hợp tại địa phương, nếu có sẵn. Điều này sẽ cho phép tính toán để nêu rõ tác động của phát thải liên quan đến điện đối với nghiên cứu CFP và cho phép phân tích các cơ hội tiềm năng để giảm tác động đó.
Sau khi thu thập dữ liệu hoạt động và hệ số phát thải, tổ chức có thể định lượng phát thải GHG cho từng giai đoạn/quá trình đơn vị vòng đời như sau.
Phát thải GHG = Σ (hoạt động, x hệ số phát thải GHGi)
6.7.2 Phân bổ
6.7.2.1 Điều khoản trong tiêu chuẩn CFP và LCA
Các tiêu chuẩn CFP và LCA cung cấp các yêu cầu sau về phân bổ.
|
6.3.6.2 Quy trình phân bổ Nghiên cứu CFP phải xác định các quá trình được chia sẻ với các hệ thống sản phẩm khác và xử lý chúng theo quy trình từng bước được trình bày dưới đây. a) Bước 1: Bất cứ khi nào có thể, nên tránh phân bổ bằng cách 1) chia quá trình đơn vị được phân bổ thành hai hoặc nhiều quá trình con và thu thập dữ liệu đầu vào và đầu ra liên quan đến các quá trình con này, hoặc 2) mở rộng hệ thống sản phẩm để bao gồm các chức năng bổ sung liên quan đến các sản phẩm phụ. b) Bước 2: Trong trường hợp không thể tránh khỏi việc phân bổ, đầu vào và đầu ra của hệ thống phải được phân chia giữa các sản phẩm hoặc chức năng khác nhau của hệ thống theo cách phản ánh được mối quan hệ vật lý cơ bản giữa chúng; tức là chúng phải phản ánh cách thức thay đổi đầu vào và đầu ra do những thay đổi về số lượng trong sản phẩm hoặc chức năng do hệ thống cung cấp. c) Bước 3: Khi không thể thiết lập hoặc sử dụng mối quan hệ vật lý đơn thuần làm cơ sở để phân bổ thì đầu vào cần được phân bổ giữa các sản phẩm và chức năng theo cách phản ảnh các mối quan hệ khác giữa chúng. Ví dụ: dữ liệu đầu vào và đầu ra có thể được phân bổ giữa các sản phẩm đồng sản xuất theo tỷ lệ giá trị kinh tế của sản phẩm. Một số đầu ra có thể một phần là sản phẩm phụ và một phần là chất thải. Trong những trường hợp như vậy, cần xác định tỷ lệ giữa sản phẩm đồng sản xuất và chất thải vì đầu vào và đầu ra chỉ được phân bổ cho phần sản phẩm đồng sản xuất Quy trình phân bổ phải được áp dụng thống nhất cho các đầu vào và đầu ra tương tự của hệ thống sản phẩm đang được xem xét. Ví dụ: nếu việc phân bổ được thực hiện cho các sản phẩm có thể sử dụng được (ví dụ: sản phẩm trung gian hoặc sản phẩm bị loại bỏ) rời khỏi hệ thống thì quy trình phân bổ phải tương tự như quy trình phân bổ được sử dụng cho các sản phẩm đó đi vào hệ thống [...]. [Nguồn: ISO/DIS 14067] Các công ty phải phân bổ lượng khí thải và loại bỏ để phản ánh chính xác sự đóng góp của sản phẩm được nghiên cứu và (các) sản phẩm phụ vào tổng lượng khí thải và loại bỏ của quá trình chung. [...] Các công ty phải tránh phân bổ bất cứ khi nào có thể bằng cách sử dụng phân chia quá trình, xác định lại đơn vị chức năng hoặc sử dụng mở rộng hệ thống. [...] Nếu việc phân bổ là không thể tránh khỏi, các công ty phải phân bổ lượng phát thải và loại bỏ dựa trên các mối quan hệ vật lý cơ bản giữa sản phẩm được nghiên cứu và (các) sản phẩm đồng thời. Khi không thể thiết lập hoặc sử dụng các mối quan hệ vật chất đơn thuần làm cơ sở để phân bổ, công ty phải chọn phương pháp phân bổ kinh tế hoặc phương pháp phân bổ khác phản ánh các mối quan hệ khác giữa sản phẩm được nghiên cứu và (các) sản phẩm phụ. [Nguồn: Tiêu chuẩn sản phẩm Nghị định thư GHG:2011] |
6.7.2.2 b Hướng dẫn ngành kỹ thuật điện
Tiêu chuẩn này khuyến cáo tránh phân bổ ờ mức độ khả thi. Nếu việc phân bổ là không thể tránh khỏi thì tổ chức sẽ phân bổ lượng phát thải và loại bỏ dựa trên các mối quan hệ vật lý cơ bản gắn liền với sản phẩm. Khi các mối quan hệ vật chất không thể được thiết lập hoặc sử dụng làm cơ sở cho việc phân bổ, tổ chức có thể lựa chọn quy trình phân bổ dựa trên:
• Giá trị kinh tế của sản phẩm;
• Kích cỡ sản phẩm;
• Kích cỡ sản phẩm; hoặc
• Thời gian luân chuyển sản phẩm.
Ví dụ - Phân bổ lượng khí thải liên quan đến lưu kho
Các yếu tố liên quan đến phân phối sẽ bao gồm việc sử dụng điện trong kho và các vật liệu được sử dụng trong kho như các giá kê hàng. Thông thường, đối với việc lưu kho, việc phân bổ được thực hiện theo đơn vị hàng hóa hoặc như một chức năng của không gian kệ trong bối cảnh bán lẻ với khoảng thời gian quay vòng sản phẩm điển hình trong kho hoặc cơ sở bán lẻ.
Cần chú ý đến thực tế là việc phân bổ làm tăng đáng kể độ không đảm bảo.
Cần thận trọng khi phân bổ dựa trên giá trị kinh tế.
Có thể cần có quy trình phân bổ dựa trên đóng góp chức năng của sản phẩm EE.
6.8.1 Điều khoản trong tiêu chuẩn CFP và LCA
Các tiêu chuẩn CFP và LCA cung cấp các yêu cầu sau đây liên quan đến việc đánh giá "độ không đảm bảo":
|
Kết quả định lượng CFP theo các giai đoạn LCI hoặc LCIA sẽ được giải thích theo mục tiêu và phạm vi của nghiên cứu CFP. Việc giải thích phải: - bao gồm đánh giá định lượng hoặc định tính về độ không đảm bảo, bao gồm việc áp dụng các quy tắc làm tròn hoặc các dải; [..]
[Nguồn: ISO/DIS 14067] |
|
Xác định ba loại độ không đảm bảo: Tham số, Kịch bản, Mô hình [Nguồn: ITU-T, nghị định thư GHG có ba loại độ không đảm bảo giống như vậy] |
|
Các công ty phải báo cáo một tuyên bố định tính về nguồn gốc của độ không đảm bảo về hàng tồn kho và việc lựa chọn phương pháp luận. [...] Độ không đảm bảo được chia thành ba loại: độ không đảm bảo của tham số, độ không đảm bảo của kịch bản và độ không đảm bảo của mô hình, được xác định trong phần sau. [Nguồn: Tiêu chuẩn sản phẩm Nghị định thư GHG:2011] |
6.8.2 Hướng dẫn ngành kỹ thuật điện
Độ không đảm bảo có thể khá quan trọng trong các sản phẩm điện và điện tử do:
- Động lực của chuỗi cung ứng (dẫn đến những thay đổi về khoảng cách vận chuyển, hiệu quả của cơ sở sản xuất và cường độ carbon của lưới điện liên quan, ...v.v.);
- Sự phát triển công nghệ nhanh chóng (làm cho việc phân bổ dữ liệu cơ sở giữa các sản phẩm và quá trình đầy thử thách);
- Cơ sở nhà cung cấp phi tập trung dẫn đến luồng thông tin phức tạp về định mức nguyên vật liệu và quy trình chế tạo; và
- Sản phẩm phức tạp với nhiều cấu hình.
Các nghiên cứu đã ước tính rằng mức biến động trung bình của phát thải khí nhà kính đối với một sản phẩm riêng lẻ có thể lên tới 30 % hoặc cao hơn. Do đó, mặc dù việc phân tích độ không đảm bảo có thể khó thực hiện nhưng điều quan trọng là phải thực hiện ít nhất một phân tích độ nhạy dựa trên các giả định quan trọng và những thông số đóng góp nhiều nhất vào tác động dựa trên chất lượng dữ liệu.
ISO 14044 định nghĩa phân tích độ không đảm bảo là một quy trình có hệ thống để định lượng các tác động tích lũy của độ không chính xác của mô hình, độ không đảm bảo đầu vào và độ biến thiên của dữ liệu bằng cách sử dụng các phạm vi hoặc phân bố xác suất. Tính toán độ không đảm bảo trong các sản phẩm EE là một lĩnh vực sẽ được hưởng lợi từ nghiên cứu đang thực hiện.
Ví dụ về phân tích độ không đảm bảo
Nghiên cứu CFP có thể đánh giá độ không đảm bảo của dữ liệu (liên quan đến dữ liệu được đo hoặc quan sát), độ không đảm bảo của kịch bản (liên quan đến các lựa chọn trong phân tích) và độ không đảm bảo của mô hình (liên quan đến các mối quan hệ toán học). Chi tiết về phân tích ba nguồn độ không đảm bảo này được nêu trong Phụ lục D.
6.9 Kịch bản sử dụng và bảo trì
6.9.1 Điều khoản trong tiêu chuẩn CFP và LCA
Các tiêu chuẩn CFP và LCA cung cấp các yêu cầu sau liên quan đến việc đánh giá "kịch bản sử dụng và bảo trì"
|
6.2.8 Giai đoạn sử dụng và hồ sơ sử dụng Khi giai đoạn sử dụng được đưa vào phạm vi nghiên cứu CFP (xem 6.2.2), thì việc phát thải và loại bỏ GHG phát sinh từ giai đoạn sử dụng sản phẩm trong suốt vòng đời sử dụng của sản phẩm cũng phải được đưa vào. Thông tin về tuổi thọ sử dụng phải được kiểm chứng và phải đề cập đến các điều kiện dự định cũng như các chức năng liên quan của sản phẩm. Hồ sơ sử dụng cần thể hiện mô hình sử dụng thực tế tại thị trường đã chọn. Trong trường hợp không có lý do khác, việc xác định hồ sơ sử dụng (tức là các tình huống liên quan và tuổi thọ sử dụng giả định cho giai đoạn sử dụng của sản phẩm) phải dựa trên thông tin kỹ thuật được công bố như: a) CFP-PCR (xem 6.1); b) tiêu chuẩn được công bố [...]; c) hướng dẫn quốc gia được công bố [...]; d) hướng dẫn ngành được công bố [...]; Khi không có phương pháp xác định giai đoạn sử dụng sản phẩm nào được thiết lập theo bất kỳ điểm nào nêu trên thì tổ chức thực hiện nghiên cứu CFP phải thiết lập các giả định đưa ra khi xác định giai đoạn sử dụng sản phẩm. Phương pháp được nhà chế tạo khuyến cáo áp dụng trong giai đoạn sử dụng (ví dụ: nung trong lò ở nhiệt độ quy định trong thời gian quy định) có thể cung cấp cơ sở để xác định giai đoạn sử dụng của sản phẩm [...]. Tất cả các giả định có liên quan cho giai đoạn sử dụng phải được ghi lại. [Nguồn: ISO/D/S 14067] |
6.9.2 Hướng dẫn ngành kỹ thuật diện
Đối với các sản phẩm EE, bao gồm thiết bị hỗ trợ (ví dụ: làm mát trung tâm dữ liệu), ít nhất các hạng mục sau đây cần được xem xét cho giai đoạn sử dụng khi phù hợp với danh mục sản phẩm cũng như mục tiêu và phạm vi của nghiên cứu CFP;
• Tiêu thụ năng lượng của sản phẩm trong suốt thời gian sử dụng có tính đến:
- hồ sơ sử dụng dựa trên mô hình sử dụng thực tế hoặc ước tính;
- tiêu thụ năng lượng tương ứng với các chế độ khác nhau;
- các điều kiện bên ngoài ảnh hưởng đến mức tiêu thụ điện năng (ví dụ: nhiệt độ, V.V.).
• Sử dụng vật tư tiêu hao
- tiêu thụ hàng tiêu dùng, ví dụ: mực, giấy, pin, v.v.
• Vận hành và bảo trì, bao gồm cả lắp đặt
- tần suất sửa chữa/bảo trì;
- sử dụng phụ tùng thay thế;
- nhân viên dịch vụ liên quan (ví dụ: đi du lịch, v.v.).
Giai đoạn sử dụng, tức là tuổi thọ sử dụng của sản phẩm phải được ước tính trong điều kiện sử dụng thực tế, dựa trên dữ liệu liên quan trong phạm vi có thể. Khi không có dữ liệu, có thể chấp nhận các nguồn hoặc ước tính kém chính xác hơn.
CHÚ THÍCH 1: Để sử dụng và bảo trì, có thể mô hình hóa cách sử dụng điển hình hoặc đa dạng của sản phẩm. Một số nhóm ngành đã hợp tác phát triển hoặc đang phát triển các mô-đun phần mềm có thể được sử dụng để mô hình hóa các giả định kịch bản sử dụng cho nghiên cứu CFP về các sản phẩm hoặc dịch vụ EE cụ thể.
Đối với chất làm lạnh và các vật liệu khác (ví dụ: chất thổi vật liệu cách ly), phát thải khí nhà kính bao gồm HFC, PFC, NF3, SF6, v.v. do rò rỉ trong giai đoạn sử dụng và bảo trì phải được đưa vào tính toán giai đoạn cuối vòng đời.
Việc định lượng phát thải khí nhà kính từ giai đoạn sử dụng và bảo trì có thể dựa trên thông số kỹ thuật thiết kế do tổ chức chuẩn bị. Khi có thông tin kỹ thuật được công bố như tiêu chuẩn pháp lý, PCR, tiêu chuẩn cụ thể, v.v., thì thông tin đó cần được đánh giá để sử dụng.
CHÚ THÍCH 2: Mặc dù dữ liệu từ bảng câu hỏi của khách hàng hoặc người tiêu dùng có thể hữu ích nhưng tiêu chuẩn này không cho rằng việc khảo sát bằng bảng câu hỏi đối với khách hàng hoặc người tiêu dùng là cần thiết.
6.10 Kịch bản giai đoạn cuối vòng đời
6.10.1 Điều khoản trong tiêu chuẩn CFP và LCA
Các tiêu chuẩn CFP và LCA đưa ra các yêu cầu sau đây liên quan đến việc đánh giá "kịch bản giai đoạn cuối vòng đời":
|
6.2.9 Giai đoạn cuối vòng đời Giai đoạn cuối vòng đời bắt đầu khi sản phẩm đã qua sử dụng sẵn sàng để thải bỏ, tái chế, tái sử dụng, v.v. Tất cả các phát thải và loại bỏ GHG phát sinh từ giai đoạn cuối vòng đời của sản phẩm phải được đưa vào nghiên cứu CFP, nếu giai đoạn này được đưa vào phạm vi (xem 6.2.2). [...] Tất cả các giả định có liên quan về xử lý cuối vòng đời, ví dụ phát thải và loại bỏ GHG 703, phải dựa trên thông tin tốt nhất hiện có và dựa trên công nghệ hiện tại và phải được ghi lại trong báo cáo nghiên cứu CFP. [Nguồn: ISO/DIS 14067] Để phân bổ do tái chế, các công ty phải sử dụng phương pháp gần đúng vòng kín hoặc phương pháp hàm lượng tái chế như được xác định trong tiêu chuẩn này. [Nguồn: Tiêu chuẩn sản phẩm Nghị định thư GHG:2011] |
6.10.2 Hướng dẫn ngành kỹ thuật điện
Tiêu chuẩn này khuyến cáo xác định kịch bản kết thúc vòng đời của các sản phẩm EE bằng cách đưa vào những nội dung sau:
Kịch bản cần thiết để định lượng lượng phát thải khí nhà kính từ quá trình chuẩn bị xử lý, tái chế, tái sử dụng:
- thu gom, đóng gói và vận chuyển các sản phẩm hết hạn sử dụng;
- tháo dỡ các bộ phận của sản phẩm hết hạn sử dụng;
- băm nhỏ và phân loại.
Kịch bản cần thiết để định lượng lượng phát thải khí nhà kính từ việc xử lý, tái chế, tái sử dụng
- quá trình tái chế vật liệu,
- quá trình thu hồi năng lượng,
- đốt và phân loại tro,
- chôn lấp, duy trì bãi chôn lấp.
Trong giai đoạn thu mua nguyên liệu thô, các sản phẩm tái chế và tái sử dụng có thể được sử dụng hiệu quả làm nguyên liệu thô, bên cạnh việc tái chế các sản phẩm đã qua sử dụng ở giai đoạn cuối vòng đời. GHG có thể được thải ra trong quá trình tái chế được sử dụng để thu gom và tái tạo các sản phẩm đã qua sử dụng, cần xem xét việc xác định các quá trình mà GHG cần được tính toán trong giai đoạn thu mua nguyên liệu thô, cũng như các quá trình đó trong giai đoạn xử lý/tái chế.
Về cơ bản, các bước chuẩn bị tái chế như thu thập và phân loại đều được đưa vào giai đoạn cuối vòng đời của sản phẩm đã qua sử dụng. Các quá trình khác sau khi phân loại như nấu chảy được đưa vào giai đoạn thu mua nguyên liệu thô của các sản phẩm sử dụng vật liệu tái chế.
CHÚ THÍCH: Hiện có các phương pháp phân bổ khác giữa các giai đoạn của vòng đời ảnh hưởng đến việc xác định ranh giới giữa xử lý cuối vòng đời và thu mua nguyên liệu thô và có thể được áp dụng như một giải pháp thay thế.
Tuy nhiên, nếu quá trình tái chế của mỗi sản phẩm là khác nhau thì có thể cần phải quyết định việc phân bổ quá trình cho từng sản phẩm. Trong trường hợp này, cần có động cơ khuyến khích mua nguyên liệu thô tái chế (nghĩa là sử dụng nguyên liệu thô tái chế sẽ dẫn đến giảm phát thải GHG) và bản thân việc tái chế các sản phẩm đã qua sử dụng cũng là một động lực (đưa sản phẩm đã qua sử dụng vào một cơ sở sản xuất). Lộ trình tái chế thích hợp sẽ cho phép giảm lượng khí thải GHG so với việc xử lý bằng cách đốt hoặc cải tạo.)
Khi việc "tái chế" đã được thực hiện, ví dụ như đối với mực của máy photocopy, thiết bị gia dụng, v.v., có thể coi rằng lượng vật liệu hoặc năng lượng được thu hồi và tiêu hao trong quá trình tái chế cũng có thể được xem xét và đưa vào tính toán.
Đối với chất làm lạnh và các vật liệu khác (ví dụ: tác nhân làm sạch vật liệu cách ly), phát thải khí nhà kính bao gồm HFC, PFC, NF3, SF8, v.v, do rò rỉ trong giai đoạn cuối vòng đời phải được đưa vào tính toán giai đoạn cuối vòng đời. Ngoài ra, lượng khí thải GHG do rò rỉ trong giai đoạn sử dụng và bảo trì cũng phải được đưa vào tính toán giai đoạn cuối vòng đời.
Ví dụ
Các tài liệu hiện có mô tả một số phương pháp phân bổ rác tái chế:
• Phương pháp 0/100
|
Phương pháp xấp xỉ vòng kín Phương pháp xấp xỉ vòng kín tính đến tác động của việc tái chế cuối vòng đời đối với việc thu mua nguyên liệu thô. Tên của nó xuất phát từ giả định rằng vật liệu được tái chế được sử dụng để thay thế vật liệu thô đầu vào có cùng đặc tính vốn có.[...] Do phương pháp xấp xỉ vòng kín được định nghĩa là phương pháp phân bổ vật liệu tái chế duy trì các đặc tính vốn có giống như vật liệu nguyên chất đầu vào, nên các đặc tính (ví dụ: hóa học, vật lý) của vật liệu tái chế phải đủ tương tự với các đặc tính của vật liệu tái chế nguyên liệu thô đầu vào được sử dụng thay thế cho nhau mà không có bất kỳ thay đổi bổ sung nào đối với vòng đời của sản phẩm. […] [Nguồn: Tiêu chuẩn sản phẩm Nghị định thư GHG:2011] |
• Phương pháp 100/0
|
Phương pháp hàm lượng tái chế Phương pháp hàm lượng tái chế phân bổ lượng phát thải và loại bỏ của quá trình tái chế vào vòng đời sử dụng vật liệu tái chế. Phương pháp hàm lượng tái chế có thể được sử dụng trong các tình huống vòng lặp mở bao gồm đầu vào và đầu ra của vật liệu tái chế. [...] Phương pháp hàm lượng tái chế còn được gọi là phương pháp giới hạn hoặc phương pháp 100-0. [...] Giảm lượng chất thải đưa vào xử lý chất thải sẽ làm giảm lượng phát thải khí nhà kính từ quá trình xử lý chất thải ở giai đoạn cuối vòng đời. Giảm việc thu mua nguyên liệu thô sẽ làm giảm phát thải và loại bỏ khí nhà kính từ việc thu mua nguyên liệu nếu quá trình tái chế ít sử dụng nhiều khí nhà kính hơn so với khai thác nguyên liệu thô. Nếu trường hợp này không xảy ra (ví dụ: các quá trình tái chế thải ra nhiều khí nhà kính hơn so với đầu vào nguyên liệu thô), thì có thể việc sử dụng đầu vào thô sẽ dẫn đến tổng lượng sản phẩm tồn kho thấp hơn so với sử dụng đầu vào tái chế. Đây là một ví dụ về việc tập trung vào một loại tác động có thể thúc đẩy các công ty đưa ra quyết định về sản phẩm phù hợp với một tác động (ví dụ: phát thải khí nhà kính) nhưng lại bất lợi cho một tác động khác (ví dụ: cạn kiệt nguyên liệu). [...] [Nguồn: Tiêu chuẩn sản phẩm Nghị định thư GHG:2011) |
• Phương pháp khác
|
9.3.7 Lựa chọn giữa phương pháp gần đúng vòng kín và phương pháp hàm lượng tái chế Trong trường hợp cả phương pháp xấp xỉ vòng kín và phương pháp hàm lượng tái chế đều có thể áp dụng như nhau cho sản phẩm được nghiên cứu, hướng dẫn sau đây sẽ cung cấp cái nhìn sâu sắc về phương pháp nào phù hợp nhất trong một số trường hợp nhất định. [...] Có thể có những tình huống mà công ty cảm thấy cả hai phương pháp đều không phù hợp cho đầu vào hoặc đầu ra của vật liệu tái chế nhất định. Trong những trường hợp này, phương pháp được sử dụng phải tuân theo các thông số kỹ thuật được đưa ra trong phần yêu cầu và được tham khảo từ hướng dẫn hiện có của ngành, quy tắc sản phẩm, báo cáo kỹ thuật, bài báo hoặc các tiêu chuẩn khác. Khi không rõ phương pháp nào là phù hợp nhất, các công ty nên thực hiện đánh giá mức độ không đảm bảo của kịch bản (ví dụ: phân tích độ nhạy) về các phương pháp tiềm năng và đưa kết quả vào báo cáo kiểm kê [...]. [Nguồn: Tiêu chuẩn sản phẩm Nghị định thư GHG:2011] |
CHÚ THÍCH: Đối với việc tái chế, phương pháp 50/50 được áp dụng theo một số tiêu chuẩn của tiểu ngành ICT.
7.1 Điều khoản trong tiêu chuẩn CFP
Tiêu chuẩn CFP yêu cầu "PCR" như sau.
|
9.5.1 Yêu cầu chung Khi dự kiến công bố công khai về CFP, nhãn CFP hoặc tuyên bố CFP thì CFP-PCR sẽ được sử dụng. Nếu tồn tại CFP-PCR liên quan (xem 6.1), chúng phải được chấp nhận. Nếu không có CFP-PCR liên quan, CFP-PCR phải được thiết lập bởi một thực thể theo 9.5. Khi báo cáo trao đổi thông tin bên ngoài CFP hoặc báo cáo theo dõi hiệu suất CFP dự định được cung cấp cho công chúng và nếu có CFP-PCR liên quan thì chúng phải được thông qua. CFP-PCR chỉ có giá trị nếu các yêu cầu của chúng phù hợp với các yêu cầu của tiêu chuẩn này. 9.5.2 Nội dung của CFP-PCR CFP-PCR phải xác định và ghi lại mục tiêu cũng như phạm vi của thông tin CFP cho loại sản phẩm theo 6.2 và các quy tắc để cung cấp thông tin bổ sung cho loại sản phẩm cùng với CFP. CFP-PCR cũng phải xác định các giai đoạn trong vòng đời cần đưa vào, các thông số cần đề cập và cách thức đối chiếu và ghi lại các thông số. CFP-PCR phải bao gồm, ở mức tối thiểu, những nội dung sau: a) hướng dẫn về nội dung và (các) định dạng của thông tin liên lạc CFP; b) thông tin và giải thích về giai đoạn nào của vòng đời được đề cập và giai đoạn nào không được đề cập, nếu việc trao đổi thông tin không dựa trên CFP bao trùm tất cả các giai đoạn của vòng đời; c) định nghĩa và mô tả loại sản phẩm (ví dụ chức năng, tính năng kỹ thuật và cách sử dụng); d) xác định mục tiêu và phạm vi cho CFP [...] e) LCI [...] f) thời hạn hiệu lực. CHÚ THÍCH: Danh sách được áp dụng từ ISO 14025: 2006, 6.7.1. CFP-PCR có thể bao gồm hướng dẫn bổ sung cho ví dụ: giai đoạn sử dụng và giai đoạn cuối vòng đời. [Nguồn. ISO/DIS 14067] |
7.2 Hướng dẫn ngành kỹ thuật điện
PCR có thể được sử dụng cho nghiên cứu CFP cho các sản phẩm EE.
Các lĩnh vực cụ thể có thể đưa ra các tiêu chuẩn hoặc hướng dẫn riêng, cụ thể hơn. Khi các tài liệu như vậy được tạo ra thì nên sử dụng tiêu chuẩn này làm tài liệu tham khảo để đảm bảo tính nhất quán trong toàn bộ lĩnh vực EE.
Khi cần xây dựng PCR cho một sản phẩm cụ thể hoặc một loại sản phẩm, tiêu chuẩn này khuyến cáo xem xét hướng dẫn nêu trong Điều 6 cũng như các yêu cầu nêu trong ISO/DIS 14067.
CHÚ THÍCH 1: Hướng dẫn thêm về việc xây dựng nội dung của tài liệu PCR được nêu trong ISO 14025:2000.
CHỨ THÍCH 2: Ví dụ về PCR. Xem tóm tắt ở Phụ lục C.
8.1 Điều khoản trong tiêu chuẩn CFP và LCA
Các tiêu chuẩn CFP và LCA cung cấp các yêu cầu sau về "tài liệu"
|
Tổng quan Các kết quả và kết luận của nghiên cứu CFP phải được ghi lại trong báo cáo nghiên cứu CFP một cách không thiên vị. Các kết quả, dữ liệu, phương pháp, giả định và cách diễn giải vòng đời (xem 6.5) phải minh bạch và được trình bày đủ chi tiết để cho phép người đọc hiểu được sự phức tạp và sự cân bằng vốn có trong nghiên cứu CFP. Loại và hình thức của báo cáo nghiên cứu CFP phải được xác định trong giai đoạn xác định mục tiêu và phạm vi của nghiên cứu CFP. Báo cáo nghiên cứu CFP cũng phải cho phép sử dụng các kết quả và diễn giải vòng đời sản phẩm theo cách nhất quán với các mục tiêu của nghiên cứu CFP. Các phương pháp phân bổ được lựa chọn phải được ghi lại chi tiết trong báo cáo nghiên cứu CFP và lượng khí nhà kính được tính đến phải được nêu rõ. Các hạng mục cần được ghi lại. Ít nhất các hạng mục sau đây phải được ghi lại hoặc được nêu rõ ràng: - Kết quả và kết luận của nghiên cứu CFP không sai lệch (xem 7 "báo cáo nghiên cứu CFP" và "kết quả CFP".8.3.6) - Dữ liệu thứ cấp (Xem 6.2.6 "Dữ liệu và chất lượng dữ liệu"), - Tất cả các giả định liên quan cho giai đoạn sử dụng (xem 6.2.8 "Giai đoạn sử dụng và hồ sơ sử dụng"), - Tất cả các giả định liên quan về xử lý cuối vòng đời (xem 6.29 "Giai đoạn cuối vòng đời"), - Kết quả của quá trình tinh chỉnh và phân tích độ nhạy (xem 6.3.5 "Tinh chỉnh ranh giới hệ thống"); - Công khai và giải thích chi tiết về các phương pháp được sử dụng để tránh hoặc thực hiện phân bổ do sản phẩm sản xuất hoặc tái chế (Xem "Phân bổ") - các phương pháp phân bổ đã chọn một cách chi tiết (xem 6.5 Diễn giải); - Các khí nhà kính được tính đến (xem Điều 7 báo cáo nghiên cứu CFP); Các hạng mục cần được ghi lại tách riêng. Các hạng mục sau đây phải được ghi lại riêng trong báo cáo nghiên cứu CFP: a) Phát thải và loại bỏ khí nhà kính liên quan đến các giai đoạn vòng đời chính mà sự phát thải đó xảy ra, bao gồm sự đóng góp tuyệt đối và tương đối của từng giai đoạn vòng đời; b) Phát thải và loại bỏ GHG phát sinh từ các nguồn và bể hấp thụ các-bon hóa thạch (xem 6.3.9.2); c) Phát thải và loại bỏ khí nhà kính phát sinh từ các nguồn và bể hấp thụ các-bon sinh học (xem 6.3.9.2); d) Phát thải GHG do dLUC (xem 6.3.9.4); e) Phát thải khí nhà kính do vận chuyển bằng máy bay (xem 6.3.9.5). Các mục cần được ghi chép riêng nếu tính toán Các giá trị GHG sau đây phải được ghi lại riêng biệt trong báo cáo nghiên cứu CFP, được tính toán: f) Sự thay đổi các-bon trong đất (xem 6.305); g) Các phát thải và loại bỏ GHG xảy ra nhờ iLUC (xem 6.3.9A); CHÚ THÍCH: Có thể có yêu cầu bổ sung về tài liệu trong trường hợp nghiên cứu CFP nhằm mục đích so sánh hoặc trao đổi. [Nguồn: Tóm tắt ISO/DIS 14067] |
|
Tài liệu về các vấn đề diễn giải dữ liệu: Kết quả của các giai đoạn LCI hoặc LCIA phải được diễn giải theo mục tiêu và phạm vi của nghiên cứu, đồng thời việc diễn giải phải bao gồm việc đánh giá và kiểm tra độ nhạy của các đầu vào, đầu ra quan trọng và các lựa chọn phương pháp luận để hiểu được độ không đảm bảo của kết quả. 4.5.1.2 Việc diễn giải cũng phải xem xét những vấn đề sau liên quan đến mục tiêu của nghiên cứu: - sự phù hợp của các định nghĩa về chức năng hệ thống, đơn vị chức năng và ranh giới hệ thống; những hạn chế được xác định qua đánh giá chất lượng dữ liệu và phân tích độ nhạy. - những hạn chế được xác định qua đánh giá chất lượng dữ liệu và phân tích độ nhạy. Tài liệu đánh giá chất lượng dữ liệu, phân tích độ nhạy, kết luận và mọi khuyến cáo từ kết quả LCI và LCIA phải được kiểm tra. [Nguồn: ISO 14044: 2006] |
|
Hồ sơ: Hồ sơ phải được lưu giữ tối thiểu ba năm. [Nguồn: PAS 2050:2011] |
8.2 Hướng dẫn ngành kỹ thuật điện
Tài liệu FP có thể phục vụ một số mục đích quan trọng bao gồm nhưng không giới hạn ở:
- Cung cấp dữ liệu hỗ trợ đề xác định một quá trình có lượng phát thải CHG đáng kể và ưu tiên các nỗ lực giảm thiểu trong suốt vòng đời sản phẩm,
- Tạo cơ sở để định lượng và báo cáo hiệu quả hoạt động CFP theo thời gian; v.v.
Tài liệu là tốt nhất khi nó rõ ràng trong việc xác định (các) sản phẩm, đơn vị phân tích, ranh giới hệ thống, dữ liệu được thu thập, phương pháp tính toán, kịch bản, đánh giá về độ không đảm bảo và các thông số khác liên quan đến nghiên cứu CFP và thời điểm nó cho phép truy xuất nguồn gốc thông tin. Ví dụ, quá trình và (các) quy trình được sử dụng để xác định kết quả tính toán hoặc mô hình hóa có thể được mô tả và ghi lại.
Liên quan đến tài liệu, cần chú ý đến việc ghi lại và duy trì dữ liệu từ nghiên cứu CFP theo định dạng hỗ trợ việc phân tích, kiểm tra xác nhận và truyền đạt kết quả. Đối với điều này, tiêu chuẩn này khuyến cáo như sau:
- Tài liệu hóa các quy trình, phương pháp luận, giả định, bằng chứng của tất cả dữ liệu .v.v. cho từng bước của Nghiên cứu CFP;
- Biên soạn các kết quả tính toán dưới dạng hồ sơ, bao gồm ít nhất các mục được yêu cầu trong các tiêu chuẩn mà phép tính phải tuân thủ.
Khi một hệ thống quản lý tồn tại trong một tổ chức, các nguyên tắc trong hệ thống quản lý đó có thể được sử dụng làm hướng dẫn để giải quyết vấn đề truy xuất nguồn gốc dữ liệu và quản lý bằng chứng, miễn là những nguyên tắc đỏ tuân thủ các tiêu chuẩn CFP và LCA quốc tế.
CHÚ THÍCH 1: Các yêu cầu trong ISO/DIS 14067 về tài liệu (như được liệt kê hộp) không nhất thiết phải tuân thủ Tiêu chuẩn sản phẩm của Nghị định thư CHG, mà yêu cầu tổ chức phải lập báo cáo công khai.
CHÚ THÍCH 2: Tiêu chuẩn Sản phẩm Nghị định thư GHG không đưa ra yêu cầu cụ thể nào về tài liệu ngoài các yêu cầu về báo cáo, công khai và minh bạch công khai.
9 Truyền thông và kiểm tra xác nhận
9.1.1 Điều khoản trong tiêu chuẩn CFP và LCA
Các tiêu chuẩn CFP và LCA thường cung cấp các yêu cầu sau về "truyền thông".
|
8 Chuẩn bị cho truyền thông CFP 8.1 Yêu cầu chung Khi một tổ chức quyết định công khai thông tin liên lạc CFP, có hai lựa chọn để tuân thủ Tiêu chuẩn quốc tế này. Thông tin liên lạc CFP theo 9.1 dự định được cung cấp cho công chúng phải: a) được bên thứ ba độc lập xác nhận (xem 8.2), hoặc b) được báo cáo đầy đủ và chính xác không thiên vị đối tượng dự kiến trong báo cáo công bố CFP (xem 8.3.)[...] 9.1 Tùy chọn liên lạc CFP 9.1.1 Yêu cầu chung [...] Truyền thông CFP bao gồm truyền thông CFP hoặc một phần CFP (xem Điều 6) [Nguồn: ISO/DIS 14067] Các công ty phải báo cáo công khai các thông tin sau: - Thông tin chung và phạm vi; - Thiết lập ranh giới; - Phân bổ, - Thu thập và Chất lượng Dữ liệu; - Độ không đảm bảo; - Kết quả kiểm kê; - Sự đảm bảo; - Các mục tiêu giảm và theo dõi thay đổi kiểm kê, trong trường hợp công ty báo cáo mục tiêu giảm và/hoặc theo dõi hiệu suất theo thời gian. [Nguồn: Tiêu chuẩn sản phẩm Nghị định thư GHG] CHÚ THÍCH: Danh sách chi tiết hơn các hạng mục cần báo cáo được đưa ra trong Tiêu chuẩn sản phẩm Nghị định thư GHG. |
|
Nguyên tắc truyền thông: Các nguyên tắc sau đây là cơ sở và phải được sử dụng để hướng dẫn việc áp dụng các yêu cầu liên quan đến trao đổi thông tin trong Tiêu chuẩn quốc tế này. Sự tham gia: Áp dụng quá trình cởi mở, có sự tham gia của các bên quan tâm khi xác định và thực hiện các chương trình truyền thông CFP. Tính minh bạch: Đảm bảo rằng thông tin liên lạc CFP và ý nghĩa dự định của nó được trình bày theo cách rõ ràng và có ý nghĩa để người đọc tài liệu có thể hiểu được. Bao gồm thông tin về đơn vị chức năng, giả định dữ liệu, phương pháp tính toán và các đặc điểm khác để tạo ra những hạn chế trong việc so sánh CFP một cách minh bạch và rõ ràng đối với nhóm mục tiêu. Công bằng: Làm rõ rằng truyền thông CFP dựa trên nghiên cứu CFP đánh giá loại tác động đơn lẻ của biến đổi khí hậu và không hàm ý tính ưu việt tổng thể về môi trường cũng như không xem xét các tác động môi trường rộng hơn. Tránh quan niệm sai lầm bằng cách không nhầm lẫn phát thải khí nhà kính đã định lượng với việc giảm phát thải khí nhà kính. [Nguồn: ISO/DIS 14067] |
9.1.2 Hướng dẫn ngành kỹ thuật điện
ISO/DIS 14067 không yêu cầu phải truyền đạt CFP, trong khi Tiêu chuẩn Sản phẩm Nghị định thư GHG yêu cầu các tổ chức phải báo cáo công khai về thông tin cụ thể để tuyên bố tuân thủ tiêu chuẩn đó.
Một tổ chức có thể thực hiện nghiên cứu CFP chì nhằm mục đích định lượng, không phải để truyền thông.
Do đó, theo ISO/DIS 14067, tiêu chuẩn này công nhận rằng các tổ chức có thể chọn hoặc không chọn truyền đạt kết quả nghiên cứu CFP của mình.
Đơn vị điển hình được sử dụng để báo cáo kết quả nghiên cứu CFP là khối lượng carbon dioxide tương đương (CO2e).
Mặc dù tổng lượng khí thải carbon của sản phẩm có thể được tính toán và biểu thị dưới dạng một con số (tổng hợp), nhưng cũng rất hữu ích khi thể hiện sự phân tích lượng khí thải theo vòng đời giai đoạn của các số riêng biệt (tách rời). Việc thể hiện riêng lượng phát thải liên quan đến giai đoạn sử dụng và bảo trì của sản phẩm hoặc dịch vụ và các phát thải từ các giai đoạn khác trong vòng đời sẽ giúp ngăn ngừa bất kỳ sự nhầm lẫn nào liên quan đến tính chính xác những gì đang được truyền đạt, vì chất lượng dữ liệu thay đổi theo giai đoạn của vòng đời và giai đoạn sử dụng thường tính đến đối với phần lớn phát thải khí nhà kính trong vòng đời của một sản phẩm EE.
9.2.1 Điều khoản trong tiêu chuẩn CFP và LCA
Các tiêu chuẩn CFP và LCA thiết lập các "tùy chọn truyền thông" như sau:
|
Việc truyền đạt CFP có thể ở dạng báo cáo liên lạc bên ngoài CFP, báo cáo theo dõi hiệu suất CFP, yêu cầu CFP, nhãn CFP hoặc tuyên bố CFP. Đối với truyền thông CFP một phần, áp dụng các yêu cầu bổ sung trong 9.6.2. [Nguồn: ISO/DIS 14067] |
|
Các công ty phải báo cáo công khai các thông tin sau: - Thông tin chung và phạm vi; - Thiết lập ranh giới; - Phân bổ; - Thu thập và Chất lượng Dữ liệu; - Độ không đảm bảo; - Kết quả kiểm kê; - Sự đảm bảo, - Đặt mục tiêu giảm và theo dõi thay đổi hàng tồn kho, trong trường hợp công ty báo cáo mục tiêu giảm và/hoặc theo dõi hiệu suất theo thời gian [Nguồn: Tiêu chuẩn sản phẩm Nghị định thư GHG] CHÚ THÍCH: Danh sách chi tiết hơn về các hạng mục cần báo cáo được đưa ra trong Tiêu chuẩn sản phẩm của Nghị định thư GHG. |
9.2.2 Hướng dẫn ngành kỹ thuật điện
Khi truyền đạt kết quả của CFP, tổ chức nên nỗ lực hết sức để tránh gây hiểu lầm cho công chúng hoặc khách hàng cụ thể. Các tổ chức phải luôn xem xét đối tượng tiềm năng khi truyền đạt thông tin về nghiên cứu CFP.
Để đảm bảo tổ chức trình bày thông tin CFP theo cách chính xác, rõ ràng, cụ thể và không mơ hồ và người đọc hiểu được ý nghĩa dự định, tiêu chuẩn này khuyến cáo như sau:
Đảm bảo toàn bộ thông tin truyền đạt (bao gồm cả hình ảnh) trình bày trung thực và chính xác về quy mô lợi ích hoặc những gì có thể xảy ra trong thực tế và không phóng đại lợi ích đạt được. Ngay cả khi đúng theo nghĩa đen, công bố không nên dễ bị hiểu sai hoặc bỏ sót thông tin quan trọng.
Đảm bảo mục tiêu, phạm vi và ranh giới của truyền thông là rõ ràng. Truyền thông cần làm rõ liệu nó đề cập đến toàn bộ sản phẩm hay chỉ một khía cạnh, vấn đề duy nhất đang được đánh giá, tức là lượng phát thải khí nhà kính cũng phải rõ ràng,
Khi cần thiết, hãy sử dụng thông tin bổ sung rõ ràng, nổi bật và bổ sung để xác định thông tin liên lạc.
CHÚ THÍCH 1: Việc hiểu rõ các yêu cầu hoặc tiêu chuẩn quản lý nhằm giải quyết vấn đề truyền thông công chúng ở các quốc gia nơi sản phẩm EE sẽ được đưa ra thị trường là điều quan trọng cần cân nhắc.
Tiêu chuẩn này khuyến cáo tổ chức nên đánh giá và lựa chọn các phương án truyền thông từ các tài liệu hiện có theo mục đích truyền thông CFP và sự xem xét cẩn thận của người đọc.
CHÚ THÍCH 2: Để biết thêm thông tin về trao đổi thông tin CFP bao gồm “báo cáo công khai” như được định nghĩa trong Tiêu chuẩn Sản phẩm Nghị định thư GHG. tham khảo các tài liệu hiện có cung cấp thêm các yêu cầu hoặc khuyến nghị về việc báo cáo nghiên cứu CFP.
9.3 Kiểm tra xác nhận và sự đảm bảo
9.3.1 Điều khoản trong tiêu chuẩn CFP và LCA
Các tiêu chuẩn CFP và LCA cung cấp các yêu cầu sau về "kiểm tra xác nhận":
|
3.9.1 Dấu vết các-bon của việc kiểm tra xác nhận sản phẩm Kiểm tra xác nhận CFP xác nhận tính hợp lệ của một công bố về môi trường (ISO 140501:2009, 8.2) bằng cách sử dụng các tiêu chí và quá trình cụ thể được xác định trước với sự đảm bảo về độ tin cậy của dữ liệu [NGUỒN: ISO 14021:1999, 3.14 đã sửa đổi - đã thay đổi ký hiệu thuật ngữ ưu tiên từ kiểm tra xác nhận công bố về môi trường]. [...] 8 Chuẩn bị cho truyền thông CFP 8.1 Yêu cầu chung Khi một tổ chức quyết định công khai thông tin liên lạc CFP, có hai lựa chọn để tuân thủ Tiêu chuẩn này. Thông tin liên lạc CFP theo điều 9.1 dự định được cung cấp cho công chúng phải: a) được bên thứ ba độc lập xác nhận (xem 8.2), hoặc b) được báo cáo đầy đủ và chính xác, không thiên vị đối tượng dự kiến trong báo cáo công bố CFP (xem 8.3).. [...] 8.2 Kiểm tra xác nhận CFP của bên thứ ba 8.2.1 Yêu cầu chung Nếu thông tin liên lạc CFP được kiểm tra xác nhận bởi bên thứ ba độc lập thì tuyên bố kiểm tra xác nhận sẽ được cung cấp cho đối tượng dự kiến. Báo cáo của người kiểm tra xác nhận phải có sẵn theo yêu cầu. Việc kiểm tra xác nhận thứ ba độc lập phải đưa ra xác nhận rằng các yêu cầu liên quan của tiêu chuẩn quốc tế này đã được đáp ứng, bao gồm cả việc áp dụng CFP-PCR có liên quan, nếu có. [...] 9.3 Thông tin liên lạc về CFP không được cung cấp cho công chúng Khi thông tin liên lạc về CFP không được cung cấp cho công chúng thì các yêu cầu đối với chương trình truyền thông CFP, CFP-PCR và kiểm tra xác nhận là tùy chọn ngoại trừ tuyên bố CFP khi yêu cầu các yếu tố này. [Nguồn: ISO/DIS 14067] |
|
Sự đảm bảo là mức độ tin cậy rằng kết quả kiểm kê và báo cáo là đầy đủ, chính xác, nhất quán, minh bạch, phù hợp và không có sai sót trọng yếu. [...] Việc kiểm kê sản phẩm GHG phải được đảm bảo bởi bên thứ nhất hoặc bên thứ ba. - Bảo đảm của bên thứ nhất: (Những) người trong công ty báo cáo nhưng độc lập với quá trình xác định kiểm kê GHG sẽ tiến hành đảm bảo nội bộ. - Sự đảm bảo của bên thứ ba: (Những) người từ một tổ chức độc lập với sản phẩm quá trình xác định kiểm kê GHG tiến hành sự đảm bảo của bên thứ ba. Mức độ đảm bảo [...] Có hai mức độ đảm bảo: hạn chế và hợp lý. Mức độ đảm bảo cao nhất có thể được cung cấp là mức độ đảm bảo hợp lý. Sự đảm bảo tuyệt đối không bao giờ được cung cấp vì 100 % đầu vào cho Kiểm kê GHK không được kiểm tra do những hạn chế về tính thực tiễn và tính khả thi. [Nguồn: Tiêu chuẩn sản phẩm Nghị định thư GHG] |
9.3.2 Hướng dẫn ngành kỹ thuật điện
Tiêu chuẩn này khuyến cáo tổ chức ít nhất nên thực hiện kiểm tra xác nhận hoặc đảm bảo độc lập của bên thứ nhất khi thực hiện liên lạc CFP. Đối với điều này, tiêu chuẩn khuyến cáo như sau:
- Chỉ định nhân sự trong tổ chức, những người đang tham gia vào một doanh nghiệp hoặc một sản phẩm không phải là doanh nghiệp hoặc sản phẩm được nghiên cứu,
- Yêu cầu nhân viên kiểm tra xác nhận tính logic của phép tính, khả năng truy xuất nguồn gốc của dữ liệu được sử dụng để tính toán và sự phù hợp với (các) tiêu chuẩn mà phép tính dự kiến tuân thủ.
Việc kiểm tra xác nhận hoặc đảm bảo của bên thứ ba có thể làm tăng độ tin cậy của nghiên cứu CFP nhưng có thể không phù hợp với khả năng chi trả của các sản phẩm EE vì chúng thường có chuỗi cung ứng và quá trình dài và phức tạp.
Các tuyên bố về CFP có thể do chính tổ chức đưa ra (ví dụ như đã thảo luận trong ISO 14021:2006) hoặc dựa trên đánh giá của bên thứ ba (ví dụ như đã thảo luận trong ISO 14025:2006).
CHÚ THÍCH 1: Ở một số quốc gia nơi tổ chức thực hiện xác nhận so sánh, việc kiểm tra xác nhận hoặc đảm bảo của bên thứ ba có thể được yêu cầu hoặc khuyến nghị.
CHÚ THÍCH 2: Đẻ biết thêm thông tin, tham khảo tài liệu và sáng kiến tiêu chuẩn hiện hành có liên quan.